Năm học 2013 – 2014: Phấn khởi với chính sách miễn, giảm học phí

2:16,Sunday, September 1st, 2013

Từ ngày 1-9, Nghị định 74 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14-5-2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân chính thức có hiệu lực. Với nghị định này, hàng triệu học sinh, sinh viên trên cả nước bước vào năm học mới với tâm trạng phấn khởi khi được hưởng chính sách miễn giảm học phí của nhà nước.   

20130214090018 hocsinh2 Năm học 2013   2014: Phấn khởi với chính sách miễn, giảm học phí

Miễn giảm trực tiếp tại trường

Theo Nghị định 74, kể từ năm học 20132014 sẽ có thêm 3 đối tượng được miễn học phí gồm: sinh viên học chuyên ngành Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; học sinh, sinh viên, học viên các chuyên ngành lao, phong, tâm thần, pháp y, giải phẫu bệnh; học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, đối tượng trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, vùng cao, hải đảo và các xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn sẽ không còn được miễn học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo quy định tại nghị định này nữa. Mặt khác, chính sách miễn giảm học phí đối với người dân tộc thiểu số và học viên, sinh viên các ngành xiếc, múa cũng được áp dụng.

Những đối tượng được miễn giảm không cần về lại địa phương để nhận tiền học phí mà theo quy định mới, Chính phủ sẽ cấp bù trực tiếp học phí cho các cơ sở giáo dục. Do đó, đối tượng được miễn giảm học phí ở bậc đại học sẽ được miễn giảm trực tiếp tại trường, thay vì phải nộp học phí rồi về địa phương để nhận lại khoản hỗ trợ này như trước đây. Quy định mới này thật sự tạo phấn khởi, đồng thời xóa được những phiền toái. Bởi lẽ, thực tế hiện nay quy trình nhận lại học phí từ Sở LĐTB-XH các địa phương vẫn còn rườm rà, thậm chí chậm trễ và gây không ít khó khăn cho nhiều đối tượng chính sách.

Theo đánh giá của các cơ sở giáo dục đại học, Nghị định 74 quy định cấp bù trực tiếp cho các trường sẽ giải quyết được các trường hợp chậm giải ngân (học phí kỳ này đôi khi phải tới 2, 3 kỳ sau mới được nhận lại) gây thiệt thòi cho các đối tượng chính sách.

de xuat bo viec mien giam hoc phi theo dia ban Năm học 2013   2014: Phấn khởi với chính sách miễn, giảm học phí

Sinh viên trường ngoài công lập phấn khởi

Một điểm mới nữa là Nghị định 74 đã thật sự tạo sự công bằng như Luật Giáo dụcLuật Giáo dục đại học đã quy địnhsinh viên trường ngoài công lập cũng được hưởng chính sách ưu tiên như sinh viên trường công lập”. Trước đây, sinh viên theo học trường ngoài công lập không được tiếp cận với những chính sách này cũng như việc vay vốn học tập.

Cụ thể, tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định 49 được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 74 như sau: “Nhà nước thực hiện cấp bù học phí trực tiếp cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập có đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí theo số lượng người học thực tế và mức thu học phí (mức cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo các nhóm ngành nghề được quy định tại Nghị định số 49 của Chính phủ). Nhà nước cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn giảm học phí cho các đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí theo học tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập (theo mức học phí của các trường công lập trong vùng đối với giáo dục mầm non, phổ thông; theo mức học phí quy định tại Nghị định 49 tương ứng với các nhóm ngành, nghề đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học)”.

TS Nguyễn Dũng, Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, phấn khởi: “Trước đây trường cũng đã có nhiều chính sách ưu tiên miễn giảm cho sinh viên theo học tại trường. Tuy nhiên, nay Nghị định 74 quy định cụ thể và rõ hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho trường cũng như cho sinh viên”. Còn ông Nguyễn Quốc Anh, Trưởng phòng Thông tinTuyển sinh của Trường ĐH Kỹ thuật Công nghệ TPHCM, chia sẻ: “Hiện nay, nhà trường vẫn tạm thu học phí đối với những sinh viên thuộc diện chính sách. Khi có thông tin hướng dẫn cụ thể, trường sẽ hoàn lại học phí cho sinh viên. Đây là thông tin khiến nhiều trường ngoài công lập cũng như sinh viên đang theo học các trường ngoài công lập rất phấn khởi”.

Theo ông Bùi Hồng Quang, Phó vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ GD-ĐT): “Hiện nay chúng tôi đang phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ LĐTB-XH nhanh chóng đưa ra thông tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định 74. Trong đó, thông tư sẽ hướng dẫn trên tinh thần đơn giản, giảm các thủ tục rườm rà để sinh viên nhanh chóng được hưởng chính sách miễn giảm của Chính phủ. Chúng tôi dự kiến có khoảng 15% – 20% sinh viên ngoài công lập sẽ được hưởng chính sách miễn giảm học phí từ Nghị định 74”.

THANH HÙNG

Theo SGGP

———————————————

CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự doHạnh phúc
—————

Số: 74/2013/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 15 tháng 07 năm 2013

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 49/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HỌC PHÍ, HỖ TRỢ CHI PHÍ HỌC TẬP VÀ CƠ CHẾ THU, SỬ DỤNG HỌC PHÍ ĐỐI VỚI CƠ SỞ GIÁO DỤC THUỘC HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN TỪ NĂM HỌC 2010 – 2011 ĐẾN NĂM HỌC 2014 – 2015

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Căn cứ Luật dạy nghề ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Luật khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;

n cứ Nghị quyết số 35/2009/QH12 Quốc hội Khóa XII kỳ họp thứ V về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015 như sau:

1. Khoản 1 Điều 4 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng.”

2. Bãi bỏ quy định tại Khoản 2 Điều 4.

3. Khoản 5 Điều 4 được sửa đổi như sau:

“5. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.”

4. Khoản 9 Điều 4 được sửa đổi như sau:

“9. Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.”

5. Bổ sung Khoản 10, Khoản 11 và Khoản 12 của Điều 4 Đối tượng miễn học phí như sau:

“10. Sinh viên học chuyên ngành Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

11. Học sinh, sinh viên, học viên các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp y và Giải phẫu bệnh.

12. Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.”

6. Khoản 1 Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: Học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc, cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với dạy nghề. Danh mục các nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.”

7. Điểm b Khoản 2 Điều 5 được sửa đổi như sau:

“b. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.”

8. Điểm c Khoản 2 Điều 5 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“c. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề và trung cấp chuyên nghiệp.”

9. Bãi bỏ quy định tại Khoản 1 Điều 6.

10. Khoản 3 Điều 6 được sửa đổi như sau:

“3. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.”

11. Khoản 2 Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“2. Nhà nước thực hiện cấp bù học phí trực tiếp cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập có đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí theo số lượng người học thực tế và mức thu học phí (Mức cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo các nhóm ngành nghề được quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ). Nhà nước cấp trực tiếp tiền hỗ trợ miễn giảm học phí cho các đối tượng thuộc diện được miễn, giảm học phí theo học tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập (theo mức học phí của các trường công lập trong vùng đối với giáo dục mầm non, phổ thông; theo mức học phí quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP tương ứng với các nhóm ngành, nghề đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học).”

12. Khoản 1 Điều 10 được sửa đổi như sau:

“1. Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông công lập: Mức thu học phí phải phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư, khả năng đóng góp thực tế của người dân.”

13. Khoản 4 Điều 11 được sửa đổi như sau:

“4. Các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập chất lượng cao được chủ động xây dựng mức học phí tương xứng để trang trải chi phí đào tạo, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép đồng thời phải thực hiện Quy chế công khai do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.”

14. Khoản 6 Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“6. Học phí đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học của các doanh nghiệp nhà nước: Căn cứ vào chi phí đào tạo, các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng mức thu học phí cho các nhóm ngành theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí đào tạo và báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trước khi thực hiện. Riêng đối với các chuyên ngành đào tạo được ngân sách nhà nước hỗ trợ, mức học phí phải theo khung quy định của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP. Mức học phí phải công khai cho từng năm học và dự kiến cả khóa học để người học biết trước khi tuyển sinh (Trường hợp người học thuộc diện được miễn, giảm học phí theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học của các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước sẽ cấp bù học phí theo mức trần học phí tương ứng với các nhóm ngành, nghề quy định tại Nghị định số 49/2010/NĐ-CP).”

15. Khoản 7 Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“7. Học phí theo phương thức giáo dục thường xuyên không vượt quá 150% mức học phí chính quy cùng cấp học và cùng nhóm ngành nghề đào tạo. Học phí đối với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn khác theo thỏa thuận giữa cơ sở giáo dục và người học.”

Điều 2. Trách nhiệm thi hành

1. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, tổ chức thực hiện Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 3. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2013.

2. Bãi bỏ việc trợ cấp, miễn, giảm học phí cho các đối tượng quy định tại Điểm đ Khoản 3 Điều 33 của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục.

3. Bãi bỏ Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 82/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các bộ môn nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật.

 

 Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
Văn phòng Tổng Bí thư;
Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- UB Giám sát tài chính Quốc gia;
- Kiểm toán Nhà nước;
Ngân hàng Chính sách xã hội;
Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, KGVX (3b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

                       Nguyễn Tấn Dũng



Gửi bình luận



Bản Quyền © 2006 - 2013 Diễn đàn sinh viên online Ngoinhachung.net

Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng lành mạnh, phong trào Đoàn-Hội, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam
Phiên bản chạy thử nghiệm, đang chờ Bộ Thông Tin & Truyền Thông cấp phép theo Nghị định số 72/2013/NĐ-CP

253 queries in 1.206 seconds.