Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net

 Quên mật khẩu
 Đăng ký

[Yêu cầu] Tiểu luận về chế độ tiền tệ?

[Lấy địa chỉ]
nhocquay8092 Đăng lúc 18-10-2008 11:37:02
effortless english
\"Anh chị hãy trình bày các chế độ tiền của các loại tiền tệ bao gồm tiền kim loại đến tiền giấy sử dụng ngày nay. Hãy rút ra bảng phân tích so sánh để phân biệt các chế độ tiền tệ này?\"

Anh chị kiếm dùm em với thứ 4 là em nộp rùi huhuhúh!!!i
kunk Đăng lúc 18-10-2008 13:21:32
tớ ko bik làm tiểu luận ^^> nhưng cũng tìm cho bạn 1 số link để bạn trích ra. hy vọng giúp ích đựoc phần nào cho bài tiểu luận của bạn
tiền việt nam :
http://blog.360.yahoo.com/blog-I ... OA--?cq=1&p=436
chính sách tiền tệ viết nam :
[COLOR=\"Green\"]Chính sách tài chính - tiền tệ với mục tiêu cân bằng kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 20 năm đổi mới

Ths. Nguyễn Hồng Phong

Định hướng mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam là xây dựng một nền kinh tế thị trường, mở hướng về xuất khẩu. Trong thời gian qua, chính sách tài chính – tiền tệ đã có những đổi mới rất quan trọng để tạo ra những yếu tố tiền đề tác động hỗ trợ và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế trong nước, cân bằng quan hệ kinh tế đối ngoại.

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, cán cân thanh toán là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng nhất để giúp cho việc hoạch định chính sách kinh tế cũng như đánh giá hiệu quả của chính sách trong nền kinh tế mở. Trong bảng cán cân thành toán, tài khoản vãng lai thể hiện các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập nhân tố và chuyển nhượng giữa những người thường trú và những người không thường trú của một nền kinh tế; tài khoản vốn thể hiện toàn bộ giao dịch về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nợ nước ngoài (các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn); cán cân tổng thể được tài trợ bởi thay đổi trong tài sản có ngoại tệ (ròng) của hệ thống ngân hàng.

1. Chính sách tài chính

Trong chính sách tài chính, chính sách thuế giữ một vị trí đặc biệt quan trọng tác động đến hoạt động thương mại và sự vận động của các luồng vốn quốc tế, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh và xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước - điều kiện cốt tử để cho hội nhập đạt hiệu quả cao nhất đối với mỗi quốc gia.

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, cán cân thanh toán là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng nhất để giúp cho việc hoạch định chính sách kinh tế cũng như đánh giá hiệu quả của chính sách trong nền kinh tế mở. Trong bảng cán cân thành toán, tài khoản vãng lai thể hiện các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập nhân tố và chuyển nhượng giữa những người thường trú và những người không thường trú của một nền kinh tế; tài khoản vốn thể hiện toàn bộ giao dịch về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nợ nước ngoài (các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn); cán cân tổng thể được tài trợ bởi thay đổi trong tài sản có ngoại tệ (ròng) của hệ thống ngân hàng.

Hệ thống thuế quan của Việt Nam bắt đầu được ban hành năm 1988 theo danh mục hàng hóa của khối Hội đồng Tương trợ kinh tế (khối SEV) mà không theo hệ thống danh mục hàng hóa hài hòa (HS) của Hội đồng Hải quan thế giới. Thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, Việt Nam đã dần từng bước điều chỉnh lại hệ thống thuế quan cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 26/1/1991 có những nội dung thay đổi cơ bản. Luật này không chỉ điều chỉnh tất cả các hoạt động xuất nhập khẩu: xuất – nhập khẩu mậu dịch chính ngạch; xuất – nhập khẩu mậu dịch tiểu ngạch; xuất – nhập khẩu phi mậu dịch; hàng hóa của cá nhân xuất – nhập cảnh… mà biểu thuế xuất – nhập khẩu đã có thay đổi lớn với việc đưa vào hệ thống danh mục hàng hóa hài hòa (HS) thay cho danh mục hàng hóa theo khối SEV. Biểu thuế nhập khẩu có khoảng 50 mặt hàng có thuế suất 60% trở lên, cao nhất là 200%.

Năm 1996, thực hiện cam kết với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam đã giảm thuế suất, nhập khẩu của một số mặt hàng có thuế suất trên 60% và được điều chỉnh nhiều lần cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn. Đến tháng 6 năm 1998, biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam gồm 3.280 nhóm mặt hàng với mức thuế suất từ 0% (áp dụng cho nhóm mặt hàng thuộc loại nguyên liệu sản xuất, máy móc, thiết bị…) đến mức cao nhất là 60%.

Năm 1999, Việt Nam áp dụng Luật sửa đổi một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991. Theo quy định của Luật thuế này, thuế suất, thuế nhập khẩu của Việt Nam gồm 3 loại: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Trong đó thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước mà Việt Nam và nước đó có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu. Thuế xuất khẩu chỉ đánh vào một số sản phẩm rất quan trọng, như khoáng sản hay tài nguyên thiên nhiên, không có khả năng tái sinh mà được xuất khẩu ở dạng thô. Các sản phẩm khác không chịu thuế để thực hiện mục tiêu khuyến khích xuất khẩu.

Để thực hiện Hiệp định ưu đãi thuế quan CEPT của AFTA, từ năm 1996, hàng năm, Việt Nam đã công bố việc giảm thuế quan và đã có 1.661 nhóm mặt hàng thuộc danh mục được thực hiện ngay, chiếm 51,6% và 1.317 nhóm mặt hàng thuộc danh mục loại trừ tạm thời, chiếm 40,9% tổng số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu lúc đó. Năm 2001 có 712 sản phẩm đã được chuyển từ danh mục loại trừ tạm thời sang danh mục được thực hiện ngay và cắt giảm các dòng thuế này thấp hơn 20%. Năm 2003, Việt Nam tiếp tục đưa hơn 700 dòng thuế từ danh mục loại trừ tạm thời sang danh mục được điều chỉnh và cắt giảm thuế suất còn dưới 20%.

Ngày 1 tháng 7 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 78/CP về việc ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPT cho các năm 2003-2006. Trong đó có trên 5000 dòng thuế sẽ được giảm xuống 0%-5% vào các năm 2006.

Những đổi mới và hoàn thiện Luật thuế nói chung, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng ở Việt Nam thời gian qua là hoàn toàn phù hợp với chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình của các Hiệp định làm cho nguồn thu Ngân sách nhà nước từ thuế nhập khẩu giảm xuống nhưng lại được bù đắpt bởi tăng nguồn thu từ nội địa do mở rộng đối tượng nộp thuế và mặt hàng chịu thuế. Các chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và việc bãi bỏ thuế thu nhập đối với kiếu hối của người Việt Nam ở nước ngoài đã làm cho luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối tăng cao, tài trợ tích cực cho thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai.

2. Chính sách tiền tệ.

Trong chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá có vai trò lớn, tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán quốc tế và tiềm lực tài chính trong quan hệ kinh tế đối ngoại

Về chính sách tỷ giá, có thể xem xét sự ảnh hưởng của chính sách này đến mục tiêu cân bằng kinh tế đối ngoại của Việt Nam qua các giai đoạn.

Trong những năm 1988-1991, tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ chế độ đa tỷ giá chuyển sang chế độ tỷ giá thống nhất được xác định theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh theo sát những diễn biến của lạm phát đã làm cho tỷ giá hối đoái thực tế ổn định, nên đã có những tác động tích cực đến việc khôi phục cả cân đối bên trong và bên ngoài nền kinh tế, từng bước nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa, thúc đẩy xuất khẩu phát triển, do đó làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ, giảm dần thâm hụt cán cân thương mại và cán cân thanh toán qua các năm. Sự điều chỉnh hợp lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa phối hợp với việc thắt chặt cung tiền, cắt giảm chi tiêu Chính phủ, hạn chế tín dụng, tăng lãi suất… và những chính sách kinh tế khác đã chặn đứng được lạm phát, đưa nền kinh tế Việt Nam ra khỏi suy thoái và bước vào thời kỳ phát triển.

Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều chỉnh để chống lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống lạm phát, chính sách tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Vì vậy, nếu so sánh chỉ số CPI của Mỹ và CPI của Việt Nam, các nhà kinh tế tính toán cho rằng, tỷ giá hối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn 20%.

Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trên 8% năm. Nhưng việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao hơn thực tế. Điều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế.

Do tỷ giá hối đoái thực tế giảm xuống, VND được đánh giá cao đã làm suy giảm sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam, làm cán cân thương mại và cán cân thanh toán chuyển trạng thái từ thặng dư năm 1991-1992 sang trạng thái thâm hụt, bắt đầu tích luỹ sự mất cân đối bên ngoài và dần chuyển sang gây mất ổn định và mất cân đối bên trong nền kinh tế. Bởi vì, về bản chất, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế đối ngoạ mà nó còn tác động đến các vấn đề kinh tế đối nội thông qua sự tác động của tỷ giá đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn.

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đã có tác dụng tích cực trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do ngoại tệ được đánh giá rẻ nên đã khuyến khích các nhà đầu tư vay ngoại tệ để đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều vốn và nguyên liệu nhập khẩu – một nguồn lực được coi là khan hiếm ở Việt Nam. Điều này đã đi ngược với chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có và những lợi thế so sánh của đất nước, đó là nguồn lực lao động.

Một yếu tố khác càng làm trầm trọng hơn tác động tiêu cực của tỷ giá hối đoái giai đoạn này là việc phá giá đồng NDT 50% vào năm 1994 của Trung Quốc. Việc phá giá NDT đã làm cho hàng hóa, dịch vụ của Trung Quốc quá rẻ đã tràn ngập thị trường Việt Nam qua con đường buôn bán mậu dịch và buôn lậu, gây khó khăn cho sản xuất trong nước và tăng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc.

Từ năm 1997 đến nay, chính sách tỷ giá hối đoái được điều hành nhằm chống đỡ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực và khắc phục tình trạng đánh giá cao VND thời gian trước đó.

Tháng 7 năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đông Nam á đã làm cho một loạt đồng tiền của các nước trong khu vực giảm giá mạnh so với đồng USD và VND. Điều đó cũng có nghĩa là, VND đã bị đánh giá cao hơn nữa, trong bối cảnh các nước trong khu vực là bạn hàng chủ yếu và quan trọng của Việt Nam, đã làm cho xuất khẩu của Việt Nam giảm sút nhanh chóng.

Phân tích những nguyên nhân và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực cho thấy, mặc dù thị trường tài chính – tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển đầu đủ và mở cửa nên không bị kéo ngay vào làn sóng của cuộc khủng hoảng, nhưng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã nhận thấy tính chất nghiêm trọng của ổn định chế độ tỷ giá danh nghĩa kéo dài – một nguyên nhân quan trọng tạo ra cuộc khủng hoảng nên đã có những biện pháp xử lý tương đối hợp lý, ngăn chặn được những cú sốc không cần thiết đối với nền kinh tế. Vì vậy tháng 10 năm 1997, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ (+) (-) 5% lên (+) (-)10%. Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh. Mặc dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến động đáng kể.

Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cực đối với xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong các năm 1997-1999, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thanh toán cũng giảm dần thâm hụt, mặc dù đầu tư nước ngoài suy giảm mạnh trong các năm này. Nhưng điều chỉnh tỷ giá như trên cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, bởi vì khi VND giảm giá đã làm tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài của cả chính phủ và các doanh nghiệp có vốn vay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Vì vậy có thể thấy rằng, đó cũng chính là cái giá phải trả khi lựa chọn chính sách tỷ giá thiên về cố định bằng cách duy trì sự ổn định của tỷ giá danh nghĩa quá lâu. Và một khi duy trì tỷ giá cố định càng dài thì cái giá phải trả càng lớn.

Để tránh những hậu quả tương tự, chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh linh hoạt, phản ánh đúng với quan hệ cung cấp về ngoại hối, sở thích của người tiêu dùng, lạm phát, lợi tức của tài sản nội, ngoại tệ… để chống đỡ được các cú sốc của nền kinh tế. Vì vậy, từ năm 1999, NHNN chấm dứt công bố tỷ giá chính thức, mà chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời biên độ giao dịch dao động cũng giảm xuống chỉ còn (+) (-) 0,1%. Việc can thiệp của Nhà nước đối với tỷ giá được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ của NHNN trên thị trường ngoại hối, xoá bỏ phương thức quản lý mang nặng tính chất hành chính chủ quan trước đây. Từ đó cho đến nay, tỷ giá hối đoái đã được hình thành theo cơ chế thị trường, bám sát sự biến động của thị trường thế giới, phản ánh tương đối sát quan hệ kinh tế quốc tế giữa đồng nội tệ và ngoại tệ, nên đã cải thiện cơ bản cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam.

Tóm lại, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ với những đổi mới, hoàn thiện các công cụ của nó đã tác động tích cực tới quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua. Chính sách tài chính và chính sách tiền tệ đã duy trì sự ổn định và tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, vượt qua sự ảnh hưởng tiêu cực của những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, tạo cơ sở vững chắc cho Việt Nam mở cửa và hội nhập vào cộng đồng kinh tế khu vực và thế giới an toàn và hiệu quả. [/COLOR]
cái này nữa ! ko biết giúp đựoc gì ko ? [ chính sách tiền tệ của mỹ \"not\" việt nam ^^]
http://www.federalreserve.gov/pf/pdf/pf_complete.pdf
Tài liệu này tóm lược toàn bộ cấu trúc tổ chức, mục đích, phương pháp cũng như cách thức đưa ra các chính sách tài chính tiền tệ của FED. Nếu bạn đọc hết và hiểu hết tài liệu này thì có thể nói là bạn sẽ không những chỉ nắm được gốc rễ mục đích của các loại chính sách tài chính tiền tệ, vai trò nhiệm vụ của nó trong việc điều tiết nền kinh tế mà bạn còn có thể hiểu rõ hơn về nhiều vấn đề khá thú vị ko bao giờ được để cập trong sách giáo khoa hay các bài giảng trên trường, lớp. Có điều để hiểu được nội dung thì bạn cũng cần phải hiểu được những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa trước đã.

[COLOR=\"Red\"]Đồng tiền và xã hội
Việt Nam ngày nay

Trần Hữu Quang[/COLOR]
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai10/200710_THQuang.htm
[COLOR=\"red\"]TIỀN TỆ LƯU HÀNH TẠI VIỆT NAM QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ THẾ KỶ ...[/COLOR]
[ file PDF ]
http://thuvien.dhnh.edu.vn:7778/ ... _lich_su_tky_xx.pdf
[CENTER]:victory:[B]ε[-ิิ_•ิ]з Lừa Tỳnh Hội ε[-ิิ_•ิ]з[/B][/COLOR]:victory:[/CENTER][/SIZE] [CENTER][B]Mặt hồ phẳng lặng Xin đừng hỏi, có sóng ngầm không? Mặc nó nhé... Gọi thế nào cho thỏa nỗi riêng chung Để không ai khổ tâm, không ai thấy mình có lỗi Tất cả tại cuộc đời, cuộc đời tự cho là mình rộng rãi Nhưng rồi cuộc đời có chứa nổi mình đâu! Không thể gọi đích danh ta là gì của nhau Đau lòng em, Đau lòng anh, Đau lòng người Tội lắm... Nhưng em tin cuộc đời này sâu rộng Sâu rộng đến vô cùng nên lạc mất hai ta[/COLOR][/B][/SIZE] [/CENTER]
kunk Đăng lúc 18-10-2008 13:27:55
thêm cho bạn một số link nữa :
[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Lịch sử tiền Việt Nam qua các thời kỳ [/COLOR][/SIZE]http://www.viettouch.com
[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền Việt Nam, Đông Nam Á… [/COLOR][/SIZE]ttp://www.joelscoins.com

[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập tiền xu [/COLOR]http://www.coins.nd.edu
[COLOR=\"red\"] Bộ sưu tập tiền xu [/COLOR]http://www.coins.nd.edu

[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền Việt Nam[/COLOR][/SIZE]  http://art-hanoi.com
[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền của các nước Việt Nam, Trung Quốc, Iran ... [/COLOR][/SIZE]http://www.transasiart.com

[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền Việt Nam[/COLOR][/SIZE] http://www.history.ucsb.edu
[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền Việt Nam ở thế kỷ 17 [/COLOR][/SIZE]http://www.charm.ru

[SIZE=\"4\"][COLOR=\"red\"]Tiền Việt Nam[/COLOR][/SIZE] http://www.charm.ru/library/vh.htm
[COLOR=\"red\"] Tiền thời Trung Cổ của các nước trên thế giới [/COLOR] http://islamiccoins.ancients.info

[COLOR=\"red\"]Tiền xu của các nước trên thế giới  [/COLOR]http://128.192.145.172/dan3.html
[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập tiền của Marcel [/COLOR] http://www.zumbo.ch

[COLOR=\"red\"]Tiền của các nước trên thế giới:[/COLOR] http://www.coastcoin.com
[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập tiền xu của San Marino[/COLOR] http://www.ilmarengo.com

[COLOR=\"red\"]Tiền xu của các nước trên thế giới : Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin… [/COLOR]http://www.coinomania.com/
[COLOR=\"red\"]Tiền Xcốt-len [/COLOR]: http://www.scottishstore.com

[COLOR=\"red\"]Tiền nước Mỹ [/COLOR]http://www.usc.edu
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://freedomtechnologycenter.org

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.emcollections.com
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://moneta.free.fr

[COLOR=\"red\"]Tiền xu thời La Mã cổ đại [/COLOR]http://www.olemiss.edu
[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập tiền của David M. Robinson [/COLOR]http://www.olemiss.edu

[COLOR=\"red\"]Tiền Iran[/COLOR] http://www.farsinet.com
[COLOR=\"red\"] Bộ sưu tập tiền xu cua ANS (American Numismatic Society)[/COLOR] http://www.charm.ru

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://www.pandausa.com/
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.aeqvitas.com/

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.med.unc.edu
[COLOR=\"red\"] Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.hunterian.gla.ac.uk

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.csun.edu
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.bowersandmerena.com

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://artemis.austincollege.edu
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]
http://ngccoin.com

[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập tiền xu của Willis H. duPont _ Georgii Mikhailovich[/COLOR] http://americanhistory.si.edu
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.guernsey.net

[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://www.calgarycoin.com
[COLOR=\"red\"] Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.sportstune.com

[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]http://www.charm.ru
[COLOR=\"red\"] Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.doylenewyork.com

[COLOR=\"red\"]Bộ sưu tập các loại tiền xu trên thế giới [/COLOR]
http://www.perseus.tufts.edu
[COLOR=\"red\"]Lịch sử của tiền tệ thế giới[/COLOR] http://www.ex.ac.uk

[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu trên thế giới[/COLOR] http://www.imj.org.il
[COLOR=\"red\"]Các loại tiền xu và lịch sử của Châu Á[/COLOR] http://www.grifterrec.com

[COLOR=\"red\"]Lịch sử của tiền tệ[/COLOR] http://www.pbs.org
[COLOR=\"red\"]Tiền tệ - Quá khứ, Hiện tại & Tương lai [/COLOR]http://www.ex.ac.uk

[COLOR=\"red\"]Lịch sử của tiền tệ[/COLOR] http://www.gi-de.com
[CENTER]:victory:[B]ε[-ิิ_•ิ]з Lừa Tỳnh Hội ε[-ิิ_•ิ]з[/B][/COLOR]:victory:[/CENTER][/SIZE] [CENTER][B]Mặt hồ phẳng lặng Xin đừng hỏi, có sóng ngầm không? Mặc nó nhé... Gọi thế nào cho thỏa nỗi riêng chung Để không ai khổ tâm, không ai thấy mình có lỗi Tất cả tại cuộc đời, cuộc đời tự cho là mình rộng rãi Nhưng rồi cuộc đời có chứa nổi mình đâu! Không thể gọi đích danh ta là gì của nhau Đau lòng em, Đau lòng anh, Đau lòng người Tội lắm... Nhưng em tin cuộc đời này sâu rộng Sâu rộng đến vô cùng nên lạc mất hai ta[/COLOR][/B][/SIZE] [/CENTER]
hoanganh_01098x Đăng lúc 18-10-2008 14:50:52
^^ Kunk, bạn hiểu lầm 1 chút về đề tài, cũng như chế độ tiền ùi!

Hix, nhoc ui là nhóc, thứ 4 nộp bài, giờ mới đi hỏi, \"nước đến chân mới nhảy, nước đến cổ mới tập bơi\", y chang... Hoàng Anh ngày xưa! (ngày nay cũng thế! DC0062B2B1EEAE2F73)



Để làm được bài này, trước tiên, nhocquay phải có được hệ thống bản vị tiền theo lịch sử. Biết bản vị tiền tệ có liên quan gì đến chế độ tiền tệ không đó? :DC0062B2B1EEAE2F73 [COLOR=\"Red\"][U]Bản vị tiền tệ [/U][/COLOR]là thứ được dùng làm cơ sở định giá đồng tiền quốc gia. Đây là yếu tố thường thay đổi trong [U][COLOR=\"Red\"]chế độ tiền tệ[/COLOR][/U]. Sau đó, mới là lập bảng, đưa ra những yếu tố riêng nhất, và kết luận, tại sao lại sử dụng tiền giấy? Trong bài, nhocquay có thế mở rộng, nói về những biến động về tiền tệ của VN nữa!

Dưới đây là tóm tắt sơ lược các tiêu chuẩn tiền tệ trong lịch sử loài người theo trình tự thời gian.

Thuở ban đầu, tiền bạc mang giá trị của chính vật liệu làm ra nó và có giá trị thống nhất trên nhiều lãnh thổ. Có một số nơi đã xuất hiện tiền giấy có giá trị tương đương tiền kim loại và có thể quy đổi trực tiếp ra kim loại dùng làm cơ sở tiền tệ.

Bản vị đồng (Bronze Standard)
Là chế độ tiền tệ lấy kim loại đồng làm tiêu chuẩn giá cả, xuất hiện từ thời thượng cổ, sau cuộc phân công lao động lần thứ II của loài người khi thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp.

Trong chế độ bản vị đồng, người ta dùng kim loại đồng để đúc tiền đưa vào lưu thông, vàng cũng được đúc tiền nhưng chiếm số lượng không đáng kể vì lúc này quan hệ trao đổi hàng hoá chưa phát triển nên chưa có nhu cầu giao dịch giá trị lớn.

Bản vị bạc (Silver Standard)
Là chế độ tiền tệ lấy bạc làm tiêu chuẩn giá cả. Dùng kim loại bạc đúc tiền, vàng cũng được đúc thành tiền phục vụ những giao dịch lớn.

Khi giao dịch, người bán phải cân đếm tiền để xác định giá trị nên gọi là tiền cân. Về sau tiền do những người, tổ chức có uy tín đúc, đánh dấu và in giá trị lên đồng bạc, người ta chỉ cần đếm tiền nên gọi là tiền đếm. Khi tiền do tư nhân đúc xuất hiện tình trạng gian lận, nhà nước can thiệp bằng cách độc quyền đúc tiền và phân phối trên toàn quốc, lúc này gọi là tiền đúc.

Bản vị kép hay song bản vị (Dual Standard)
Là chế độ tiền tệ dùng vàng và bạc làm cơ sở vật ngang giá chung, ra đời khi CNTB ra đời. Trong chế độ này tồn tại đồng thời 2 hệ thống tiền tệ, 2 hệ thống giá cả nên không ổn định. Mỗi loại hàng hoá đều có 2 giá, một tính bằng vàng, một tính bằng bạc do đó có sự không thống nhất giá cả, gây ra sự khó khăn trong giao dịch.

Tuy nhiên chế độ song bản vị vẫn tồn tại lâu dài hơn một thế kỷ và kết thúc vào cuối thế kỷ 19.

Bản vị vàng (Gold Standard)
Là chế độ tiền tệ ổn định nhất của TBCN, dùng kim loại vàng làm cơ sở vật ngang giá, xuất hiện năm 1870 ở Anh và nhanh chóng lan ra các nước phương Tây. Năm 1913 chấm dứt chế độ này vì các nước tư bản mạnh thu vén vàng để chuẩn bị cho chiến tranh thế giới thứ I.
Đặc điểm :
- Mọi người được tự do đúc vàng theo tiêu chuẩn của nhà nước.
- Tiền giấy được đổi trực tiếp ra vàng theo giá trị ghi trên tiền giấy.
- Vàng được luân chuyển tự do giữa các nước.


Kể từ sau khi chế độ bản vị vàng sụp đổ trên Thế giới bắt đầu bước sang giai đoạn mới: đồng tiền không mang giá trị thực chất của vật liệu làm ra nó nữa.


Bản vị vàng thoi hay Bản vị vàng hối đoái (Gold Bar Standard)
Còn gọi là chế độ Bản vị Sterling lấy đồng Bảng Anh làm tiêu chuẩn. Không cho đổi trực tiếp tiền giấy sang vàng nên người ta gọi đây là hình thức Bản vị vàng gián tiếp. Chỉ có đồng Bảng Anh và đồng Dollar Mỹ mới có thể đổi trược tiếp sang vàng và phải đổi với số lượng lớn.

Theo các nhà nghiên cứu thì đây là bước lùi của hệ thống tiền tệ TBCN: sự liên kết giữa vàng và tiền giấy đã trở nên lõng lẽo, trong chế độ bản vị vàng gián tiếp người ta thấy sự xuất hiện của hiện tượng lạm phát.

Năm 1931 chế độ bản vị vàng thoi sụp đổ do đồng Bảng Anh bị phá giá.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 làm cho hệ thống bản vị vàng dưới mọi hình thức ở Châu Âu và Mỹ sụp đổ.

Bản vị Dollar Mỹ (Dollar Standard)
Được thiết lập sau Chiến tranh thế giới lần thứ II ở Bretton Wood. Tại hội nghị tháng 7/1944 với 44 nước tham dự (có cả Liên Xô cũ) đã thống nhất thông qua hệ thống tiền tệ Bretton Wood dùng đồng Dollar Mỹ làm tiêu chuẩn tiền tệ của thế giới. Cũng tại hội nghị này tổ chức IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và WB (Ngân hàng thế giới) được thành lập. Kể từ đó đồng USD được coi là cầu nối giữa vàng và toàn bộ hệ thống tiền tệ thế giới.

Bản vị Dollar Mỹ thực chất cũng là bản vị vàng gián tiếp: chỉ có các ngân hàng trung ương của các nước mới có quyền đổi trực tiếp từ tiền giấy sang vàng, và chỉ cho phép đổi tiền thuộc lĩnh vực ngoại thương.

Vì là bản vị vàng gián tiếp nên có hiện tượng lạm phát, để giữ giá vàng ổn định Mỹ đã nỗ lực rất hiều nhưng cuối cùng đành phải phá giá Dollar vào tháng 8 năm 1971 và ngừng không cho đổi trực tiếp tiền sang vàng nữa. Do đó hệ thống tiền tệ Bretton Wood đã sụp đổ.

Bản vị SDR hay Bản vị tiền vàng (SDR Standard)
Là sáng kiến của tổ chức IMF vào năm 1970 gọi là quyền rút vốn đặc biệt (Special Drawing Right). SDR giúp các nước hội viên của IMF có thêm một phương tiện thanh toán quốc tế mà không cần dùng đến dự trữ vàng hay ngoại hối.
SDR không phải là tiền mặt mà thực chất là sổ kế toán ghi các khoản nợ có của mỗi hội viên. 1 lượng SDR = 0.8888671 g vàng nhưng chỉ tồn tại trên sổ sách nên gọi là bản vị tiền vàng. Cứ 5 năm IMF họp một lần để quyết định phần trăm đóng góp quỹ của các nước hội viên. Việt Nam đã là thành viên của IMF từ ngày 21 tháng 9 năm 1956.

Nguyên tắc hoạt động của “sổ” SDR: Một quốc gia A thâm hụt cán cân ngoại thương với quốc gia B, nếu A và B đều là thành viên của IMF thì A không phải trả tiền trực tiếp cho B mà tài khoản SDR của A sẽ bị trừ đi khoản thâm hụt đó (ghi bên có) và sẽ chuyển sang sổ SDR của B (ghi bên nợ) tại IMF.
Các nước hội viên thanh toán nợ nần trong ngoại thương (lưu ý là chỉ trong lĩnh vực ngoại thương mới được phép dùng sổ SDR để thanh toán) thông qua SDR trên sổ sách của IMF. IMF ngoài vai trò trung tâm thanh toán quốc tế còn đóng vai trò trung tâm tín dụng quốc tế bằng cách làm chủ nợ của những nước thiếu hụt và làm con nợ của những nước dư thừa trong cán cân thanh toán.

Bản vị tiền giấy (Currency Standard)
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng chế độ bản vị tiền giấy (trong đó có Việt Nam) , đây là chế độ phát hành và lưu thông tiền giấy theo Pháp luật của mỗi nước (tiền giấy ở đây bao hàm tiền làm bằng kim loại và tiền làm bằng giấy).

Trong chế độ bản vị tiền giấy, tiền không đổi trực tiếp sang vàng được nên có thể nói tiến giấy và vàng không có mối quan hệ gì, tiền tệ không còn là dấu hiệu của vàng nữa. Vàng chỉ là một loại hàng hóa đắt tiền mà thôi.
Tiền giấy là phương tiện lưu thông bắt buộc do tín nhiệm Chính Phủ mà công dân lấy tiền giấy làm phương tiện thanh toán, cất trữ .....


Bản vị tiền tệ (Money Santdard)
Thực chất là đơn vị tiền tệ của mỗi nước. Mỗi quốc gia có một đơn vị tiền tệ riêng ở Việt Nam là đồng (VND), Mỹ là Dollar Mỹ (USD Mỹ), Anh là Pound (£), Pháp là Franc (FF)......

Khi bản vị vàng còn tồn tại, tỷ giá hối đoái (dùng để hoán đổi các loại tiền tệ) dựa trên vàng, hiện nay người ta dựa vào sức mua đồng tiền để xác định tỷ giá (trên thị trường tự do) hoặc dựa vào tỷ giá cố định do nhà nước quy định (đối với những quốc gia có chính sách tỷ giá cố định).


Còn gì thắc mắc, hỏi típ. ^^

Ngoài ra, để phục vụ cho việc thuyết trình, nhocquay nên đọc bài này:

Cứ thong thả đọc nha! :024: Tự mình làm mới hiểu bài, thuyết trình mới \"ngon\" được, chứ hem phải nhờ người khác làm cho đâu nha! :069:


[SIZE=\"4\"][COLOR=\"Red\"]Các chế độ tiền tệ quốc tế[/COLOR][/SIZE]


Quan hệ mậu dịch giữa các nước dẫn đến hình thành các chế độ tiền tệ quốc tế. Đó là 1 tập hợp những quy định thống nhất giữa các nước trong việc tổ chức và điều hành thống nhất các quan hệ tiền tệ- tín dụng phát sinh giữa các nước nhằm thiết lập một trật tự cho các quan hệ kinh tế- mậu dịch.

Lịch sử các chế độ tiền tệ quốc tế điển hình:
Chế độ tiền tệ quốc tế Pari 1867
Chế độ tiền tệ Genova 1922
Chế độ tiền tệ Bretton Woods 1944
Chế độ tiền tệ Jamaica 1977
Chế độ tiền tệ Europe 1979

1.Chế độ tiền tệ quốc tế Pari năm 1867

Song song với việc thực thi chế độ tiền vàng ở các nước, trên phạm vi quốc tế, một chế độ tiền tệ dựa trên tiêu chuẩn vàng đã được thiết lập. Đó là chế độ tiền tệ quốc tế Pari.

Chế độ tiền tệ quốc tế này được xác lập vào năm 1867 tại Pari sau cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trên thế giới. Những nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ này là:
- Thừa nhận vàng là tiền tệ thế giới, được chu chuyển và trao đổi tự do giữa các quốc gia.
- Vàng là căn cứ để xác lập tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia của các nước.
- Vàng thực hiện mọi chức năng của tiền tệ. Chế độ tiền tệ quốc tế Pari, về cơ bản là có sự đồng nhất.

2. Chế độ tiền tệ Genova (Italia)
- Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Giê-nơ: Sau Thế chiến lần thứ I, việc khôi phục lại nền kinh tế ở các nước châu Âu trở nên cấp thiết. Nhu cầu thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng, tiền tệ quốc tế nhằm nhanh chóng khôi phục lại nền kinh tế bị tổn thất trong chiến tranh trở nên vô cùng cấp thiết đối với các quốc gia ở châu Âu. Thực tế này đòi hỏi phải có những thoả thuận thống nhất giữa các nước để thiết lập một trật tự mới trong các quan hệ mậu dịch, tín dụng và tiền tệ quốc tế.

- Nội dung của chế độ tiền tệ Giê-nơ:
Chế độ tiền tệ Giê-nơ hình thành là kết quả của những thoả thuận giữa các nước tham gia Hội nghị tiền tệ-tài chính quốc tế tổ chức chức tại thành phố Giê-nơ (Italia) vào năm 1922. Qua hội nghị nhằm tổ chức lại các quan hệ tiền tệ-tài chính quốc tế, thúc đẩy các quan hệ mậu dịch và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các nước thành viên vào thời kỳ hậu chiến. Trong chế độ này các nước đã thoả thuận những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, các nước chính thức thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của đồng Bảng Anh (GBP) trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tín dụng quốc tế. Họ thừa nhận đồng Bảng Anh là phương tiện thanh toán và phương tiện dự trữ quốc tế, đánh giá nó ngang với vàng, coi đồng Bảng Anh là đồng tiền chủ chốt. Vì vậy, thực chất của chế độ tiền tệ này là chế độ bản vị Bảng Anh, một đồng tiền quốc gia do Ngân hàng Anh phát hành.

Hai là, việc sử dụng đồng Bảng Anh trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ kinh tế quốc tế khác không hạn chế. Các nước muốn có Bảng Anh thì phải chuyển vàng đổi lấy Bảng Anh của nước Anh.

Chế độ tiền tệ Giê-nơ tạo nên nhiều lợi thế cho nước Anh trong lĩnh vực mẫu dịch, dịch vụ, thanh toán và tín dụng quốc tế. Điều đó đã làm cho Chính phủ Anh “lạm dụng” quyền phát hành đồng Bảng Anh, để rồi đẩy đồng tiền ây lâm vào tình trạng khủng hoảng liên tục, làm cho uy tín của nó trên trường quốc tế ngày càng giảm sút nghiêm trọng. Đánh dấu sự kiện này chính là việc nước Anh đã tuyên bố chính thức phá giá đồng tiền nước mình với mức 33% so với đồng đô la Mỹ vào ngày 21-09-1931. Việc phá giá đồng Bảng Anh – xương sống của chế độ tiền tệ Giê-nơ cũng là sự “khai tử” đối với chế độ tiền tệ quốc tế này.

3. Chế độ tiền tệ Bretton-woods

- Bối cảnh ra đời của chế độ tiền tệ Bretton-woods: Sự sụp đổ của chế độ tiền tệ Giê-nơ làm cho các quan hệ tiền tệ-tài chính quốc tế trở nên rối ren đã dẫn đến sự hình thành các liên minh tiền tệ do một số nước tư bản đầu sỏ cầm đầu. Đó là các khu vực tiền tệ như khu vực đồng Phơ-răng Pháp, khu vực đồng đô la Mỹ, khu vực đồng Bảng Anh.

Khu vực đồng đô la do Mỹ cầm đầu tồn tại bên cạnh các “đối thủ không hơn kém” là khu vực đồng Bảng Anh và khu vực đồng Phơ-răng Pháp. Nhưng sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Mỹ trở thành một cường quốc mạnh nhất thế giới về ngoại thương, về tín dụng quốc tế và là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới (chiếm khoảng ¾ tổng dự trữ vàng của toàn bộ thế giới tư bản). Đây chính là những yếu tố tạo nên thế mạnh cho đồng đô la Mỹ trên trường quốc tế, đưa đồng tiền này “lên ngôi” đồng tiền chủ chốt của thế giới.

Tháng 7 năm 1944, lợi dụng địa vị kinh tế và tài chính của mình trên trường quốc tế, Hoa Kỳ đã đứng ra triệu tập Hội nghị tiền tệ - tài chính quốc tế tại thành phố Bretton-woods với sự tham gia của 44 nước. Hội nghị đã ký kết một Hiệp định quốc tế bao gồm những thoả thuận của các nước về việc thiết lập các quan hệ tiền tệ - tài chính quốc tế mới cho thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần II. Được gọi là chế độ tiền tệ Bretton-woods.

- Nội dung chủ yếu của chế độ tiền tệ Bretton-woods:

Một là, chế độ tiền tệ Bretton-woods đã thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này. Nó được coi là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tính dụng quốc tế.

Hai là, việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo chế độ tỷ giá cố định. Theo chế độ tỷ giá này thì các nước thành viên phải chấp hành những quy định sau đây:
            + Phải xác định và công bố cho IMF tiêu chuẩn giá cả (nội dung vàng) của đồng tiền nước mình.
            + Không được tự ý tăng, giảm nội dung vàng của đồng tiền nước mình vượt quá mức ±10% nếu không được IMF đồng ý.
            + Ngân hàng trung ương của các nước thành viên của IMF phải can thiệp vào thị trường để giữ cho tỷ giá hối đoái thị trường không biến động vượt ra ngoài biên độ ±1% so với đồng giá vàng.

Ba là, các nghiệp vụ về vàng được thực hiện theo 1 giá chính thức là 35 USD = 1 ounce vàng (1 ounce vàng = 31,1035 gram vàng nguyên chất). Đô la Mỹ được tự do chuyển đổi ra vàng theo giá đó. Vì vậy, để duy trì tỷ giá cố định của USD với đồng tiền các nước, ngân hàng trung ương của các nước thành viên cũng phải can thiệp vào thị trường vàng để giữ giá vàng chính thức luôn luôn ở mức 35 USD = 1 ounce vàng. Nếu giá vàng này biến động thì cũng có nghĩa là chế độ tỷ giá cố định cũng bị vô hiệu hoá.

Bốn là, các nước phải thực hiện ngay các biện pháp thiết thực để loại trừ chế độ kiểm soát và quản chế ngoại hối, đồng thời thiết lập chế độ tiền tệ tự do chuyển đổi, nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các quan hệ thương mại và các quan hệ đối ngoại khác giữa các nước với nhau.

Năm là, thiết lập một tổ chức tiền tệ quốc tế nhằm điều chỉnh các quan hệ tiền tệ - tài chính quốc tế theo những nguyên tắc của chế độ tiền tệ Bretton-woods.

Chế độ tiền tệ Bretton-woods đã lấy USD làm chuẩn. Thực chất, các nước đã cố định tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước mình theo đồng đô la. Tuy các nước vẫn phải xác định nội dung vàng của đồng tiền nước mình, nhưng chỉ là hình thức. Đồng tiền các nước không tự do chuyển đổi ra vàng, muốn có vàng thì các đồng tiền đó trước hết phải chuyển thành USD, tức là các nước sẽ phải có USD, từ USD sẽ chuyển được thành vàng theo tỷ giá chính thức (giá vàng chính thức) 35 USD = 1 ounce vàng. Vì lẽ đó, chế độ tiền tệ Bretton-woods được gọi là bản vị vàng-hối đoái dựa trên USD, còn gọi là chế độ bản vị đô la.

Chế độ bản vị đô la đã làm cho sự liên hệ giữa đồng tiền các nước với vàng lại một bước nữa bị nới lỏng. Chế độ tiền tệ này đã hợp pháp hoá, biến đồng tiền quốc của Mỹ thành đồng tiền quốc tế. Chính vì thế đã khuyến khích Hoa Kỳ lạm phát đô la. Tình trạng này đã kéo theo sự lạm phát quốc tế, trước hết là ở những nước thành viên của chế độ tiền tệ này.

Lạm phát ở trong nước và quốc tế làm cho uy tín của USD trên trường quốc tế giảm dần. Nhưng vấn đề quan trọng là ở chỗ, các nước “đồng minh” của Hoa Kỳ đã không chấp hành chế độ tỷ giá cố định, không can thiệp vào thị trường tiền tệ để giữ giá USD như đã cam kết, mà thả nổi tỷ giá trên thị trường. Đô la Mỹ càng bị mất giá, thì các nước càng tìm mọi cách chuyển nó ra vàng với số lượng ngày càng tăng. Để đối phó với tình trạng này, ngày 15-8-1971 Mỹ đã phải tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng theo tỷ giá chính thức. Sau đó, ngày 18-12-1973, USD lại một lần nữa bị phá giá với mức 10%.

Qua hai lần phá giá USD (17,89%) đã chứng tỏ rằng, những nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ Bretton-woods gần như bị phá vỡ hoàn toàn. USD lại trở về vị trí đồng tiền quốc gia. Nhưng do tiềm lực kinh tế của Mỹ rất lớn, cho nên USD vẫn còn là một đồng tiền mạnh, đồng thời nó vẫn chiếm 1 tỷ trọng đáng kể trong quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia của các nước.

4. Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca

Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca ra đời trên cơ sở Hiệp định được ký kết giữa các nước thành viên IMF tại Gia-mai-ca vào những năm 1976-1978. Chế độ tiền tệ này vận hành theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:
            - Thừa nhận SDR là cơ sở của chế độ tiền của các nước. SDR trở thành một đơn vị tiền tệ tính toán quốc tế mới. Giá trị của nó được xác định theo phương pháp rổ tiền tệ, lúc đầu rổ tiền tệ gồm 16 đồng tiền mạnh nhất của thế giới. Hiện nay, tham gia “rổ tiền tệ” là 5 đồng tiền mạnh của những quốc gia có tiềm lực về kinh tế, tài chính. Như vậy, chế độ tiền tệ Gia-mai-ca thực chất là chế độ bản vị SDR.
            - Các nước thành viên được tự do lựa chọn thi hành chế độ tỷ giá hối đoái mà không cần đến sự can thiệp của IMF.
            - Thực hiện phi tiền tệ hoá vai trò của vàng. Không thừa nhận vàng trong chức năng là thước đo giá trị và là cơ sở để xác định tỷ giá hối đoái của các đồng tiền quốc gia các nước.
Chế độ tiền tệ Gia-mai-ca đến nay vẫn chưa đi đến cùng của sự hoàn thiện. Một số nguyên tắc của chế độ tiền tệ ấy vẫn chưa được chấp hành triệt để, chưa trở thành hiện thực.

1.5. Chế độ tiền tệ châu Âu

Chế độ tiền tệ châu Âu là một chế độ tiền tệ quốc tế khu vực. Chế độ tiền tệ này trong bối cảnh mâu thuẫn giữa ba trung tâm thế lực quốc tế trong lĩnh vực thương mại, tiền tệ, tài chính ngày càng trở nên gay gắt. Nó được xây dựng trên cơ sở Hiệp định tiền tệ do các nước trên lục địa châu Âu ký kết vào tháng 3-1979.

Nội dung cơ bản của chế độ tiền tệ này như sau:
- Chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước châu Âu. Giá trị của ECU được đảm bảo bằng dự trữ vàng và ngoại hối của các nước thành viên.

Khác với chế độ tiền tệ Gia-mai-ca, chế độ tiền tệ châu Âu không dựa trên SDR mà dựa vào ECU - một đơn vị tiền tệ quốc tế khu vực của các nước thuộc khối EU. Đồng ECU có các chức năng tương tự như SDR, là hình thái tiền “bút tệ”. Giá trị của ECU được tính theo phương pháp “rổ tiền tệ”, nghĩa là giá trị của nó được dựa trên sức mua “tổng hợp” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ”. Khi “giá trị” của các đồng tiền tham gia “rổ tiền tệ” thay đổi, thì giá trị của toàn rổ cũng thay đổi và do đó, giá trị của ECU cũng được được xác định lại. Hiện nay đồng tiền chung châu Âu có tên gọi mới là EURO.



Chúc nhocquay học tốt, hoàn thành xuất sắc bài tiểu luận! :024:

Có gì thắc mắc, cứ hỏi tiếp, ở đây nhìu bạn học Kinh tế lắm đó! :013:
tekchu89 Đăng lúc 18-10-2008 15:52:42
her her tekchu mới làm xong bài tiểu luận nè đề tài là lịch sử phát triển của những chế độ tiền tệ, nên cũng gần giống với đề tài này
sau đây là các chế độ bản vị tiền bạn có thể tham khảo, có mấy phần giống với hoàng anh nha\'
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ
Lịch sử tiền tệ cho thấy rằng bản vị tiền tệ có thể là hàng hóa, bạc, vàng hay ngoại tệ. Việc chọn hàng hóa không kim loại làm bản vị tiền tệ có từ thời xa xưa khi người ta chưa phát hiện ra kim loại. Tuy nhiên, về sau này các nhà kinh tế học chỉ nói đến chế độ bản vị bạc, vàng và ngoại tệ chứ không bàn đến chế độ bản vị hàng hóa không kim loại.
1.1. Chế độ lưu thông tiền kim loại
1.1.1. Chế độ bản vị bạc
Từ khi phát hiện ra bạc và vàng, người ta nhận thấy rằng bạc và vàng có những thuộc tính tự nhiên của nó rất thuận tiện cho việc sử dụng làm tiền tệ. Từ đó người ta đã dùng bạc hay vàng đúc thành tiền theo một hình dáng và trọng lượng nhất định và cho lưu thông trong nước như là đồng tiền chính thức, hợp pháp và có hiệu lực thanh toán vô hạn trên phạm vi lãnh thổ quốc gia.
Chế độ bản vị bạc là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một trọng lượng bạc nhất định theo phát luật của nước đó, theo đó nhà nước không hạn chế việc đúc tiền bạc, tiền giấy Quốc gia được nhà nước xác định một trọng lượng bạc nhất định, được tự do chuyển đổi ra bạc theo tỷ lệ quy định và được lưu thông không hạn chế, chế độ bản vị bạc được lưu hành phổ biến và đầu thế kỷ XIX trở về trước.
Đặc điểm của chế độ bản vị bạc:
•        Định nghĩa đơn vị tiền tệ theo bạc chẳng hạn năm 1775 dollar Mỹ được định nghĩa bằng 25,92 gram bạc ròng.
•        Cho dân tự do đem đổi bạc đến sở đúc tiền để đổi lấy tiền cho lưu hành.
•        Cho dân chúng tự do đem tiền đến ngân hàng đổi lấy bạc tùy theo định nghĩa chính thức.
•        Cho phép bạc tự do lưu thông từ trong nước ra ngoài nước và ngược lại.
•        Giá trị ghi trên bề mặt của đồng tiền bằng đúng giá trị kim loại đúc thành tiền.
Lúc đầu do bạc tương đối phổ biến hơn vàng nên người ta dùng bạc làm tiền trước tiên. Dần dần có nhiều mỏ vàng được khám phá ra và vàng trở nên phổ biến hơn khiến các nước sử dụng cả bạc lẫn vàng làm tiền tệ. Từ đó chế độ song bản vị ra đời.
1.1.2. Chế độ song bản vị
Chế độ song bản vị hay còn gọi là chế độ lưỡng kim bản vị là chế độ tiền tệ trong đó cả bạc lẫn vàng đều được sử dụng làm tiền tệ lưu hành song song nhau và cả hai đều có giá trị thanh toán theo một tương quan do Nhà nước ấn định. Chẳng hạn trước năm 1914, Pháp định nghĩa đồng Franc vừa theo vàng vừa theo bạc như sau:
1 Franc vàng = 322,5 mg vàng chuẩn độ 0,900
1 Franc bạc = 5 gram bạc chuẩn độ 0,900
Chế độ song bản vị nhìn chung có những đặc điểm chính yếu sau đây:
•        Dân chúng được tự do đem vàng hay bạc đến sở đúc tiền để đổi lấy tiền đúc theo định nghĩa chính thức.
•        Có một tỷ lệ tương quan pháp định cố định giữa giá trị của vàng và giá trị của bạc. Trong ví dụ trên, 1 gram vàng ăn 15,5 Franc bạc.
•        Cả tiền vàng lẫn tiền bạc đều có giá trị thanh toán như nhau, nghĩa là trong mua bán hay trả nợ người ta có thể sử dụng tiền bạc hoặc tiền vàng để thanh toán theo tỷ lệ tương ứng
Thực tế lưu thông tiền tệ cho thấy rằng chế độ song bản vị đã từng là nguyên nhân gây ra những xáo trộn trong đời sống kinh tế và lưu thông tiền tệ do nạn đầu cơ tiền vàng hay tiền bạc tùy theo sự thăng trầm của giá bạc và giá vàng trên thị trưòng.
1.1.3. Chế độ bản vị tiền vàng
Tính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triển nhanh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơn vàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ bằng vàng, do đó phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu thông.
Mãi tới thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, do công nghiệp khai thác vàng phát triển, các nước mới có đủ điều kiện chuyển từ chế độ hai bản vị sang chế độ bản vị vàng. Anh là nước có nền kinh tế và thương mại phát triển nhất lúc bấy giờ, là nước đầu tiên thực hiện chế độ bản vị vàng, song cũng phải trải qua một hời kỳ chuyển tiếp lâu dài từ 1717 đến 1821. Pháp lệnh của nhà nước Anh công bố thực hiện chế độ bản vị vàng vào năm 1816 nhưng mãi tới năm 1821 mới được thi hành.
Bản vị tiền vàng là đồng tiền của một nước được đảm bảo bằng một trọng lượng vàng nhất định theo pháp luật. Những yếu tố cần thiết của bản vị tiền vàng gồm:
-        Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng.
-        Tiền giấy quốc gia được nhà nước xác định một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đổi ra vàng theo tỷ lệ đã quy định.
-        Tiền vàng được lưu thông không hạn chế.
Chế độ bản vị tiền vàng được sử dụng phổ biến ở các nước trong những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỷ XX.
1.2. Chế độ bản vị vàng thỏi
Chế độ bản vị vàng thỏi cũng qui định cho đơn vị tiền tệ quốc gia một trọng lượng vàng cố định. Nhưng vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền. Vàng không lưu thông trong nền kinh tế, mà chỉ dự trữ để làm phương tiện thanh toán quốc tế và chuyển dịch tài sản ra nước ngoài. Tiền giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định, nhưng phải một số lượng tiền giấy nhất định, ít nhất phải tương đương một thỏi vàng. Chế độ bản vị vàng thỏi được áp dụng ở Anh năm 1925 và qui định muốn đổi tiền giấy lấy vàng phải đổi ít nhất là 1500 bảng Anh, áp dụng ở Pháp 1928 với số tiền giấy phải đổi ít nhất là 225.000 Francs…
1.3. Chế độ bản vị vàng hối đoái
Chế độ bản vị vàng hối đoái là chế độ bản vị trong đó tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng, muốn đổi ra vàng phải thông qua một ngoại tệ. Ngoại tệ đó phải được tự do chuyển đổi ra vàng như Đôla Mỹ, bảng Anh…
Chế độ bản vị hối đoái được áp dụng tại Ấn Độ năm 1898, Đức 1924, Hà Lan 1928…
1.4. Chế độ bản vị ngoại tệ
Dưới chế độ bản vị ngoại tệ, đơn vị tiền tệ của một quốc gia được xác định bằng đơn vị tiền tệ nước ngoài (ngoại tệ). Đó phải là các ngoại tệ mạnh và được tự do chuyển đổi trên thị trường. Chế độ bản vị này được sử dụng phổ biến ở các nước thiếu vàng hoặc về mặt chính trị bị lệ thuộc vào nước khác.
Để khuyến khích thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế một cách có trật tự, một hình thức biến tướng chế độ bản vị ngoại tệ được hình thành ở các nước tư bản chủ nghĩa. Chế độ bản vị này được thịnh hành từ năm 1944 đến năm 1971 và có hai đặc trưng cơ bản:
•        Vào cuối chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ chiếm hữu phần lớn vàng của thế giới. Do đó, bộ tài chính Mỹ, theo hiệp định quốc tế đã làm cho vàng và đôla Mỹ có thể chuyển đổi cho nhau, theo tỷ lệ 35 đôla cho một ôngxơ vàng.
•        Theo đó, các nước khác theo hiệp định quốc tế, Ngân hàng trung ương các nước đó duy trì một tỷ giá cố định đồng tiền của họ so với đồng đôla Mỹ.
Chế độ bảng vị ngoại tệ biến tướng này đã hoàn thành sứ mệnh của nó là khuyến khích thương mại quốc tế và khôi phục kinh tế sau chiến tranh Thế Giới Thứ II. Nhưng từ những năm 1969 chế độ này bắt đầu sụp đổ, bởi đồng đôla Mỹ lạm phát và dự trữ vàng của Mỹ giảm sút nghiêm trọng. Chế độ bản vị ngoại tệ này đã kết thúc khi tổng thống Mỹ - Nixơn tuyên bố không đổi giấy đôla ra vàng ngày 15/08/1971.
1.5. Chế độ tiền giấy không chuyển đổi ra vàng có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ
Dưới chế độ tiền giấy không được chuyển đổi ra vàng có bản vị là sức mua hàng hóa dịch vụ thì đơn vị tiền tệ của một nước không thể tự do chuyển đổi ra kim loại quý. Đầu những năm 1930 chế độ bản vị tiền giấy không được chuyển đổi đã trở thành phổ biến. Vàng chỉ được dùng để thanh toán các khoản nợ quốc tế, nó bị rút lui khỏi lưu thông trong nước vì không dùng làm tiền tệ và không được đổi tiền giấy ra vàng. Từ đây, giá trị thực của đồng tiền các nước phụ thuộc vào sức mua của nó tức là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà có thể mua được. Giá trị của một đơn vị tiền tệ được xác định bằng sức mua của nó và được đo bằng số nghịch đảo của mức giá cả chung. Như vậy mức giá cả chung càng cao thì giá trị hay sức mua của một đơn vị tiền tệ càng thấp và ngược lại.
HẬN ĐỜI VÔ ĐỊCH KHÔNG ĐỐI THỦ[/COLOR]:5FBE5354C423D641985 ĐƯỜNG VỀ ÂM PHỦ QUÁ XA XÔI[/COLOR]:khi1j: PHÓ HỘI KIÊM:7D8573017843BFA7FF4 LÃNH ĐẠO TRẬN CHIẾN -‘๑’- ๑۩۞۩๑[Lừa Tỳnh Hội]๑۩۞۩๑-‘๑’-[/SIZE][/COLOR]
kunk Đăng lúc 18-10-2008 16:02:51
chẹp ^^! pó chy...:075:. chưa bao giờ làm ài tiểu luận như thế này ^^. post lên đại nếu ai xài đựoc thì xài ^^ ko xài đựoc thì để vậy ... tham khảo ^^ hehe
[CENTER]:victory:[B]ε[-ิิ_•ิ]з Lừa Tỳnh Hội ε[-ิิ_•ิ]з[/B][/COLOR]:victory:[/CENTER][/SIZE] [CENTER][B]Mặt hồ phẳng lặng Xin đừng hỏi, có sóng ngầm không? Mặc nó nhé... Gọi thế nào cho thỏa nỗi riêng chung Để không ai khổ tâm, không ai thấy mình có lỗi Tất cả tại cuộc đời, cuộc đời tự cho là mình rộng rãi Nhưng rồi cuộc đời có chứa nổi mình đâu! Không thể gọi đích danh ta là gì của nhau Đau lòng em, Đau lòng anh, Đau lòng người Tội lắm... Nhưng em tin cuộc đời này sâu rộng Sâu rộng đến vô cùng nên lạc mất hai ta[/COLOR][/B][/SIZE] [/CENTER]
nhocquay8092 Đăng lúc 18-10-2008 16:05:43
cám ơn các anh chị nhìu lắm. tại chỉ có 1 tuần hà mà em là sinh viên mới nữa nên hơi bị rối      nhocquay
tekchu89 Đăng lúc 18-10-2008 16:10:49
àh mà em học hệ gì vậy anh học năm 2 mới học môn tài chinh tiền tệ nè, có ji` cần thi cứ hỏi:F04ED2DF0BCDC1A9528
@ kunk: không học khối kinh tế thì mốt để đất cho tui nhá, cứ bon chen hoài:034:
HẬN ĐỜI VÔ ĐỊCH KHÔNG ĐỐI THỦ[/COLOR]:5FBE5354C423D641985 ĐƯỜNG VỀ ÂM PHỦ QUÁ XA XÔI[/COLOR]:khi1j: PHÓ HỘI KIÊM:7D8573017843BFA7FF4 LÃNH ĐẠO TRẬN CHIẾN -‘๑’- ๑۩۞۩๑[Lừa Tỳnh Hội]๑۩۞۩๑-‘๑’-[/SIZE][/COLOR]
nhocquay8092 Đăng lúc 18-10-2008 20:58:49
cho em hỏi  bản vị và chế độ làm ra bảng là sao dzậy  em ko hiểu về đề tài này
nhocquay8092 Đăng lúc 18-10-2008 21:00:51
mấy anh có thể nói chi tiết hơn nưa được ko dza em cam ơn nhiều nhocquay
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký


Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam Ex links: FUN88, M88, Trao đổi Link: Nhac San, ve sinh cong nghiep, Thiết Kế Website Chuyên Nghiệp, Tài Liệu, Luận Văn, DAFABET, Diễn đàn sinh viên Công nghiệp, replica louis vuitton, m88, m88, Ebook miễn phí, ve may bay, mua ban nha dat, ve may bay gia re, Thư viện tài liệu, Thư viện giáo án, Bài giảng điện tử, tai game ban ca, tai photowonder, Tự học tiếng anh Effortless English, m88, m88, Study in USA, truyen tranh,

Lưu trữ|Phiên bản Mobile|Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net © 2006-2013
Đang chờ Bộ Thông Tin & Truyền Thông cấp phép theo Nghị định 97/2008/NĐ-CP
Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam
Chúng tôi sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào đối với hoạt động của Thành viên.
Liên hệ: 0945.434.344 - (Trần Công Toàn) - Email: wil8x@yahoo.com -
Check Google Page Rank - Ping your blog, website, or RSS feed for Free - DMCA.com

facebook like

GMT+7, 23-11-2014 16:20 , Processed in 0.303570 second(s), 14 queries , Gzip On, Apc On.

N2C sử dụng mã nguồn Discuz!

Bản quyền mã nguồn thuộc về Comsenz Inc.
Thông tin quảng cáo trên Ngoinhachung.net

Lên trên