2.1.3. Hệ thống nhân vật
Hệ thống nhân vật truyện thơ trung đại Việt Nam có hai đặc trưng nổi bật. Thứ nhất, mỗi nhân vật, dù được miêu tả đạt tới bề dầy một tính cách thì cũng chỉ là tính cách nhất phiến. Nghĩa rằng cái gọi là bề dầy ấy đã bị nguyên tắc thi pháp nhân vật của thể loại giát mỏng ra, dẹt hoá đi: nó không có chiều kích mang tính lập phương. Toàn bộ tính cách của nhân vật được ấn định một cách tiên nghiệm ngay từ trong ý đồ tác giả, và cố định trong suốt vận mệnh tác phẩm. Biến cố mà nhân vật trải qua chỉ là những sự kiện hầu như ngoại tại thuần tuý đối với tính cách, được gá hờ vào cốt truyện, làm thành những cơ hội giả tạo để nhân vật phô ra những gì đã được tác giả sắm sẵn cho, từ trước khi hạ sinh ra nó. Thứ hai, trong tác phẩm, con người bao giờ cũng được chia ra, xếp vào hai tuyến duy nhất:thiện–ác, chính–tà, trung–nịnh, tốt–xấu… Đường phân giới giữa chúng, về nguyên tắc, là tuyệt đối và cố định. Nhân vật bên này không được phép chuyển dịch sang nhập tịch bên kia; cũng không cho phép một nhân vật cùng lúc vừa thuộc bên này lại vừa thuộc bên kia…
Lục Vân Tiên tuân thủ nghiêm ngặt những quy phạm ấy. Các nhân vật đều nhất phiến về tính cách. Sự miêu tả từng nhân vật, hay giữa các nhân vật, xét trong nội bộ tác phẩm, không phải không phong phú, càng khó nói là đơn điệu. Tác giả sử dụng nhiều thủ pháp cá biệt hoá nhân vật, từ những góc độ và mức độ khác nhau. Có khi dùng người kể chuyện để giới thiệu nhân vật, bằng cách trực tiếp thuyết về phẩm chất bên trong (Vân Tiên), hoặc gián tiếp giới thiệu phẩm chất qua mô tả dáng vẻ bên ngoài (Hớn Minh). Có khi dùng lờicủa chính nhân vật, để nó tự tố nó (Trịnh Hâm), hoặc che đậy mà lộ liễu (Thể Loan), hoặc thổ lộ mà ngập ngừng (Nguyệt Nga)… Và thường khi nhất là dùng hành vi nhân vật (hành vi động tác và hành vi ngôn ngữ) để thể hiện: nói đi đôi với làm (Quán), nói ít làm nhiều (Hớn Minh, Ngư, Tiều), chỉ làm không nói (Tiểu Đồng), nói một đàng làm một nẻo (Võ Công, Trịnh Hâm), và có cả sự ngậm miệng ăn tiền (Bùi Kiệm), v.v... Tất cả nhằm xác định tính cách cho nhân vật, trước hết những nhân vật chính.
Quy phạm thứ hai về thi pháp nhân vật truyện thơ là sự phân tuyến đối lập các nhân vật cũng được Lục Vân Tiên tuân thủ triệt để. Hơn cả triệt để: cực đoan! – nhân vật chính chẳng những được xếp vào hai tuyến đối lập (chính diện–phản diện) như thông lệ truyện thơ Nôm, chúng còn được bố trí thành từng cặp tính cách đối lập, trực diện đối đầu nhau: Nguyệt Nga >/< Thể Loan; Kiều Công >/< Võ Công; Hớn Minh >/< Trịnh Hâm; Tử Trực >/< Bùi Kiệm; Quán-Ngư-Tiều >/< Lang-Bói-Pháp...Vân Tiên không thuộc cặp nào nhưng liên quan tất cả các cặp, thì đó là hình thức bề sâu của cấu trúc hệ thống nhân vật xác nhận vị trí nhân vật chính-trung-tâm của anh ta. Ở mỗi cặp, nhân vật đối lập nhau theo nguyên tắc vừa đối trọng vừa đối xứng, lấy nét trội đạo đức đã xác định làm phân giới và trục đốichiều ngang. Trên trục đối chiều ngang đó, hai nhân vật ở hai đầu mút của trục, hay là mỗi nhân vật ở một thái cực đối lập của cùngmột nét đạo đức mà chúng có chức năng biểu thị. Người tốt, tốt tuyệt đối; kẻ xấu, cũng xấu tuyệt đối.
Vậy là các nhân vật Lục Vân Tiên đối lập kép, theo cả hai trục, trụcdọc (theo tuyến) và trục ngang (theo cặp). Đặt cạnh mô hình đối lập nhân vật đơn trục (chỉ theo tuyến) của các truyện Nôm, rõ ràng đếnLục Vân Tiên, quy phạm này đã được khai thác đến tận cùng.
Mỗi tính cách trong Lục Vân Tiên, nếu nhìn riêng rẽ cô lập, là một nhân vật, một người. Nhưng nhân vật trong Lục Vân Tiên không xuất hiện đơn lập, mà song lập: mỗi nhân vật chính không xuất hiện một mình, mà bao giờ cũng gọi ra một nhân vật đối lập, cùng xuất hiện với nó thành một cặp. Có Nguyệt Nga thì lập tức có Thể Loan, Tử Trực xuất hiện thì cũng xuất hiện ngay Bùi Kiệm… Trong truyện, sự xuất hiện song lập ấy phổ quátnhư một cơ chế, đi vào tiếp nhận của độc giả, người đọc cảm thụ nhân vật truyện theo từng cặp như vậy.
Mỗi tính cách song lập, qua cặp nhân vật đồng hiện, sẽ biểu thị một nét đạo đức duy nhất; ngược lại, nét đạo đức duy nhất ấy trở thànhtoàn bộ nội dung tính-cách-người của hai nhân vật (thậm chí, về nguyên tắc, hoạt động trên cái nét đạo đức duy nhất đó không chỉ là hai người – hai nhân vật – mà có thể là mọi người, hay mọi khả năng mà con người có thể có ở nét đạo đức ấy).
Ở Dương Từ-Hà Mậu và Ngư Tiều thuật vấn đáp, các nhân vật không chia thành tuyến. Thế giới trong truyện không phải là tốt đẹp, càng không phải toàn bích tốt đẹp. Trái lại, đó là thế giới mà cái xấu mưu toan thống trị như ở Dương Từ-Hà Mậu hoặc hiện đang ngự trị Ngư Tiều thuật vấn đáp. Vì vậy, hiển nhiên nó đầy dẫy cái xấu và kẻ xấu của nó. Có điều, những cái xấu-kẻ xấu đó không được đưa vào bình diện mô tả tái hiện của tác phẩm, mà chỉ như những ám ảnh hậu trường, có chức năng phông nền cho chuyện và nhân vật truyện. Tuy nhiên, không vì vậy mà các nhân vật, trước hết, nhân vật chính, được mô tả là những người-tốt-hoàn-toàn, càng không phải tuyệt đối tốt, như các nhân vật chính diện đã thấy ở Lục Vân Tiên và thường thấy ở các truyện thơ Nôm.
Các nhân vật Dương Từ, Hà Mậu và Ngư Tiều thuật vấn đáp cố nhiên không phản diện, nhưng cũng không thể nói là chính diện thuần toàn. Cơ bản thì họ là người tốt, hiểu theo nghĩa người lương thiện, do đó cơ bản là chính diện. Nhưng trong con người toàn bộ của nhân vật, vẫn có một phần của sự không tốt, chưa tốt, chưa chính diện – phần này ở Dương, Hà rõ hơn, đủ trở nên có vấn đề hơn, so với Ngư, Tiều. Theo tôi, có thể gọi đây là dạng tính cách phi thập toàn thuần nhất, mà một cách tự nhiên lôgíc, nó hoàn toàn được phép trở nênlưỡng khả (hoặc thậm chí đa khả) về tính cách. Đặt cạnh khuôn hình phổ biến về nhân vật của các truyện thơ Nôm, kể cả Lục Vân Tiên, rõ ràng dạng nhân vật lưỡng khả phi thập toàn này là hiếm hoi, vì vậy nó độc đáo, ít có, thậm chí riêng có ở hai truyện thơ này.
2.2. Đặc sắc nghệ thuật trong truyện thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu
2.2.1. Cốt truyện
Nghệ thuật là cánh tay đắc lực tạo nên thành công của một tác phẩm văn học. Đề tài, cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ là những yếu tố nồng cốt của một kiệt tác văn học. Trong đó, cốt truyện là bộ xương sống, cái khung của một tác phẩm nên nó đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, văn học nói chung và truyện thơ Nôm nói riêng, cốt truyện là một phương tiện để người nghệ sĩ gửi gắm tư tưởng, tạo nên đứa con tinh thần của mình.
Đến với Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trên thi đàn văn học. Ông đã đóng góp rất nhiều trên thi đàn văn học. Ông đã đóng góp rất nhiều ở thể loại truyện thơ Nôm, tác phẩm tiêu biểu là Lục Vân Tiên. Nét đặc sắc trong truyện thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu không những ở phương diện nội dung mà ở phương diện thi pháp. Nguyễn Đình Chiểu đã vận dụng tốt kĩ thuật xây dựng cốt truyện. Cốt truyện trong truyện thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu bắt nguồn từ đời sống thực tại xã hội. Truyện Lục Vân Tiên được tác giả sáng tạo trên sự hư cấu cảnh ngộ, cuộc đời của chính tác giả. Cốt truyện Lục Vân TiênNguyễn Đình Chiểu xây dựng rất hợp logic, cụ thể như sau: Lục Vân Tiên quê ở quận Đông Thành khôi ngô tuấn tú, nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài, giữa đường chàng đánh tan bọn cướp Phong Lai cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm ơn ân đức ấy Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự họa bức chân dung chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình đi thi và kết bạn với các sĩ tử khác. Sau khi về nhà thăm cha mẹ Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi và ghé thăm Võ Công người đã hứa là gã con gái là Võ Thể Loan cho chàng. Từ đây Vân Tiên có thêm người bạn đồng hành là Vương Tử Trực, tới kinh đô lại gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, thấy Vân Tiên tài cao Trịnh Hâm đem lòng đố kỵ và ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi về quê chịu tang. Dọc đường về Vân Tiên bị đau mắt nặng, rồi bị mù cả hai mắt, bị Trịnh Hâm đẩy xuống sông. Chàng được gia đình ông Ngư cưu mang và và Vân Tiên gặp lại Hớn Minh và chàng đón Vân Tiên về an dưỡng. Khoa thi năm ấy Tử Trực đỗ thủ khoa, chàng trở lại nhà họ Võ hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngõ ý muốn gả Thể Loan cho chàng nhưng bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt, Vương Công hổ thẹn và ốm chết. Nghe tin Vân Tiên chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được đem lòng thù oán, tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Quan, thuyền đi đến biên giới nàng ôm tấm hình vẽ Lục Vân Tiên và nhảy xuống sông tự tử. Sau đó, nàng được Quan Âm cứu giúp và được gặp lại Lục Vân Tiên, hai người sống với nhau rất hạnh phúc.
Cốt truyện trong truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu được xây dựng theo quan niệm truyền thống, mô hình ổn định của cốt truyện với ba sự kiện cơ bản: gặp gỡ, tai biến, đoàn tụ. Cốt truyện trong thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu nhằm tới mục tiêu giáo huấn, các yếu tố trong truyện được xây dựng một cách trình tự, hợp logic để nhằm tới mục đích văn dĩ tải đạo.
2.2.2. Ngôn ngữ
Với một nội dung có tính nhân dân sâu sắc, với một hình thức giản dị phù hợp với nếp suy nghĩ của quần chúng và với một ngôn ngữ trong sáng được nâng cao từ tiếng nói thân thuộc hàng ngày của nhân dân, truyện Lục Vân Tiên đã được đông đảo quần chúng say mê ưa thích.
Trong tác phẩm Lục Vân Tiên phong vị của phương ngữ Nam Bộ được thể hiện khá độc đáo. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những danh từ cụ thể và những động từ, tính từ có đối lập giữa các phương ngữ :heo/ lợn ; bắp/ ngô ; nhang/ hương ; nhợ/ dây ; đui/ mù ; hối/ giục ; kêu/ gọi ; quái/ treo...với những trường hợp này, sự lựa chọn của Nguyễn Đình Chiểu gần như là điều tự nhiên đối với những từ rất gắn bó với cuộc sống bà con nơi quê hương tác giả. Tuy nhiên, tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, được truyền miệng mà lưu lại, nên những trường hợp biến thể ngữ âm giữa các phương ngữ, có thể nghĩ rằng người kể, người sao chép, người đọc đã theo cách phát âm phương ngữ, một cách phát âm mà nếu giải thích thì có nhiều lí do khác nhau cho các trường hợp. Đó là cách phát âm vẫn còn cho đến tận ngày nay, dù trên văn bản và trong nhận thức có thấy là “nhân”, là Nguyễn Đình Chiểu “chính” là“bệnh” thì trong cách phát âm của người miền Nam vẫn cứ là“ nhơn” là “chánh” là“bịnh”theo chuẩn phương ngữ. Có thể nói nhân dân miền nam yêu thíchLục Vân Tiên không phải chỉ do phương ngữ tao ra, nhưng phương ngữ vẫn có vai trò rất quan trọng. Phương ngữ niềm nam chính là một yếu tố trong giá trị hiện thực của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Nhờ có cuộc sống gắn bó ruột thịt với nhân dân, lăn lộn giữa cuộc sống “muối dưa hẩm hút” cùng bà con cô bác trên chặng đường chạy loạn, chữa bệnh, lưu lạc...ông đã học được hàng nghìn trang sách đời trong cuộc sống văn hóa dân gian phong phú. Cho nên tràn vào tác phẩm Lục Vân Tiên là hàng ngàn triết lý thực tiễn, tâm lý và ngôn ngữ dân gian Nam Bộ. Triết lý đạo đức nhân dân vốn sống rất bền dai rất sinh động trong đời sống đạo đức thực tiễn trong nền văn hóa văn hóa thực hành của nhân dân. ... Nguyễn Đình Chiểu đã dần dà lựa lọc, thâu thái cái vốn quí đó trực tiếp từ đám “dân ấp dân lân”mà ông cùng chung sống trong chòm xóm. Cả trong khi sáng tác, chau giũa Lục Vân Tiên, ông đã khéo léo lựa dòng cho nguồi suối dân gian trong mát ùa vào trong tác phẩm của mình. Để diễn đạt nông nỗi thăng trầm của hai nhân vật chính, hàng chục thành ngữ dân gian đã xen dày vào từng dòng thơ : sao dời vật đổi ; màn trời chiếu đất ; sớm còn tối mất, phận bạc như vôi....Chủ đề đạo đức trong tác phẩm đã khiến cho hàng loạt thành ngữ tục ngữ ca dao vụt đến với Đồ Chiểu trong khi sáng tác. Có thể tìm thấy trong Lục Vân Tiênnhững khuôn tục ngữ như: Chùa rách phật vàng ; nước có nguồn cây có cội ; sống sao thác vậy...
Lục Vân Tiên là một truyện thơ Nôm vừa mang tính bác học vừa mang tính bình dân của một tác giả nhưng được truyền đi và bổ xung theo lối dân gian, được sáng tác trong một điều kiện của một nền văn hóa Đằng Trong nửa cuối thế kỷ XIX, với tất cả những đặc điểm về đời sống tinh thần, về văn chương và ngôn ngữ của một nền đất mới.
Về mặt ngôn ngữ, tuy còn một số câu còn thô vụng, giống như nhiều truyện nôm cổ xưa, nhưng lời kể bằng thơ toát lên sự nhiệt thành, thân mật như một truyện kể dân gian, có sắc thái ngôn ngữ địa phương...chưa nói có nhiều câu thơ hay, hay cả về hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu.
2.3. Không, thời gian nghệ thuật
Nhân vật truyện thơ nôm thường được trình bày như một số phận hoàn chỉnh. Người đọc tiếp xúc với nhân vật không phải với một thời gian hạn định, mà là chứng kiến cả một kiếp người, cả một đời người. Người ta hình dung các nhân vật với đầy đủ những vui buồn sướng khổ, mọi bước thăng trầm, mội biến cố quan trọng, các cảnh huống có ý nghĩa nhất,.. với một ý thức bao quát về chúng. Chẳng hạn trong Lục Vân Tiên, tác giả giới thiệu nhân vật hết sức tường tận, từ lúc mới ra đời, đi học, đi thi, gặp nạn, cho đến khi vinh hiển. Đặc biệt, tác giả còn phác thảo một chân dung sán lạn đối với cặp Vân Tiên – Nguyệt Nga: Trăm năm biết mấy tinh thần/ Sinh con sau nối gót lân đời đời. Có thể nhận thấy ý đồ nghệ thuật của nhà văn qua cái cầu nối của các thời (quá khứ - hiện tại – tương lai) của nhân vật. Việc khảo sát con người trong một không - thời gian dài rộng như thế không phải là vô cớ. Chính ý thức nghệ thuật về nhân vật, ý nghĩa triết lí của câu chuyện buộc tác giả phải dùng đến cái kiểu cốt truyện có tính phổ biến ấy của truyện thơ Nôm. Cái triết lí mà tác giả muốn trình bày trong truyện Lục Vân Tiên đòi hỏi phải triển khai câu chuyện trên quy mô dài rộng – quy mô một đời người. Có thế thì mới đủ điều kiện để chứng minh sự ứng nghiệp của nó. Cái kết có hậu rất huy hoàng, với những thành đạt của nhân vật chính, theo tác giả không gì khác là sự đền bù số phận, là kết quả của quá trình vì nghĩa. Hoặc các hình phạt mà nhân vật phản diện phải chịu chẳng qua là cái giá mà họ phải trả cho một quá trình ăn ở bất nhân vô đạo trước đó.
Quan niệm “con người đạo đức” cũng chi phối trực tiếp đến việc sáng tạo, sắp xếp, tổ chức các hình tượng nghệ thuật như không gian, thời gian… trong truyện của Nguyễn Đình Chiểu, các hình tượng này cũng có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn trong Lục Vân Tiên, không gian, thời gian luôn được tác giả trình bày theo nguyên tắc đảm bảo các điều kiện để nhân vật có thể bộc lộ phẩm chất của mình một cách thuận lợi nhất. Hoạt động của các nhân vật đều diễn ra xoay quanh trục đạo lí, đạo đức. Thành thử rất ít khi tác giả để cho nhân vật yên ổn một chỗ (để suy tư, chiêm nghiệm...) ; nghĩa là ông chú trọng đến sự vận động của thế giới nội tâm. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho hình tượng không – thời gian trong truyện của Nguyễn Đình Chiểu có sự khác biệt so với những truyện thơ Nôm khác, nhất là các truyện thiên về mô tả tâm lí nhân vật.
Lịch sử phát triển dân tộc nói chung cũng như lich sử văn học nói riêng luôn luôn nằm trong quy luật của sự thanh lọc. Vượt qua sự thanh lọc nghiệt ngã đó, Nguyễn Đình Chiểu sống mãi với thời gian và tỏa sáng trong lòng người.Cụ Đồ Chiểu có được sự ngưỡng mộ và tôn kính của bao thế hệ cả ngày nay và thế hệ đã qua là do di sản thơ văn ông để lại cho đời sau và những giá trị tinh thần tỏa ra từ những áng thơ văn đó. Chính những giá trị cao đẹp ấy là kết quả của một cuộc đời lao động trí óc nghiêm túc, say mê, tràn đầy nghị lực và không biết mệt mỏi của Nguyễn Đình Chiểu.
Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài và truyện thơ Nôm là một trong những nét đặc sắc và đóng góp lớn của ông trong tiến trình phát triển văn học dân tộc. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động, khiến cho ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.
Bằng cuộc đời và sự nghiệp của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần xứng đáng cho đời sống văn hóa dân tộc trải qua thử thách nghiệt ngã được bảo tồn và phát triển. Sống trong tình thương và sự kính trọng của nhân dân, những người làm nên lịch sử và văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là một nhân cách lớn, một nhà văn hóa chân chính của nhân dân. Với tất cả vai trò xã hội và sứ mạng của con người mà Đồ Chiểu phải gánh vác, nhà thơ, thầy thuốc, người công dân, chiến sỹ yêu nước ấy cho đến cuối đời vẫn kiên cường vượt qua số phận để lại cho đời sau một tấm gương về cách sống trong sáng đến tuyệt vời. Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam.
1. Trần Văn Giàu, (1983), Nguyễn Đình Chiểu – Đạo làm người, NXB Sở văn hóa thông tin Long An.
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2005), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Khiêu (1986), Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam, NXB Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội.
4. Nguyễn Lộc (1976), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
5. Đặng Quang Lưu (1978), Tập nghị luận và phê bình văn học chọn lọc, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. Vũ Tiến Lựu (2000), Nguyễn Đình Chiểu, NXB Giáo dục, Hà Nội.
7. Nguyễn Phong Nam (1995), Để làm rõ điều nghi vấn về truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Tạp chí Văn học, Hà Nội.
8. Nguyễn Phong Nam, (1997), Giáo trình văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, NXB Giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Phong Nam (1998), Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
10. Nguyễn Phong Nam (2003), Giáo trình văn học Việt Nam, NXB Đà Nẵng.
11. Vũ Tiến Quỳnh (1998), Nguyễn Đình Chiểu, NXB Giáo dục, Hà Nội.
12. Nguyễn Ngọc Thiện (2001), Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.
|