Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net

 Quên mật khẩu
 Đăng ký


Hỗ trợ Download tài liệu trên Tailieu.vn Báo giá Quảng cáo trên Ngoinhachung.net Tuyển điều hành viên cho Ngoinhachung.net
Tìm

[Tham khảo] Môi trường - vai trò của vi sinh vật trong nước 2

[Lấy địa chỉ]
GSPL-2008 Đăng lúc 25-11-2008 18:49:54
effortless english
II. VAI TRÒ CỦA VI SINH VẬT TRONG NƯỚC:
1. Các vi sinh vật chỉ thị việc nhiễm bẩn nguồn nước bởi phân:
Coliforms và Fecal Coliforms: Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm có khả năng lên men lactose để sinh ga ở nhiệt độ 35 ± 0.5oC, coliform có khả năng sống ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặt biệt trong môi trường khí hậu nóng. Nhóm vi khuẩn coliform chủ yếu bao gồm các giống như Citrobacter, Enterobacter, Escherichia, Klebsiella và cả Fecal coliforms (trong đó E. Coli là loài thường dùng để chỉ định việc ô nhiễm nguồn nước bởi phân). Chỉ tiêu tổng coliform không thích hợp để làm chỉ tiêu chỉ thị cho việc nhiễm bẩn nguồn nước bởi phân. Tuy nhiên việc xác định số lượng Fecal coliform có thể sai lệch do có một số vi sinh vật (không có nguồn gốc từ phân) có thể phát triển ở nhiệt độ 44oC. Do đó số lượng E. coli được coi là một chỉ tiêu thích hợp nhất cho việc quản lý nguồn nước.
Fecal streptococci: nhóm này bao gồm các vi khuẩn chủ yếu sống trong đường ruột của động vật như Streptococcus bovis và S. equinus; một số loài có phân bố rộng hơn hiện diện cả trong đường ruột của người và động vật nhu S. faecalis và S. faecium hoặc có 2 biotype (S. faecalis var liquefaciens và loại S. faecalis có khả năng thủy phân tinh bột). Các loại biotype có khả năng xuất hiện cả trong nước ô nhiễm và không ô nhiễm. Việc đánh giá số lượng Faecal streptococci trong nước thải được tiến hành thường xuyên; tuy nhiên nó có các giới hạn như có thể lẫn lộn với các biotype sống tự nhiên; F. streptococci rất dễ chết đối với sự thay đổi nhiệt độ. Các thử nghiệm về sau vẫn khuyến khích việc sử dụng chỉ tiêu này, nhất là trong việc so sánh với khả năng sống sót của Salmonella. Ở Mỹ, số lượng 200 F. coliform/100 mL là ngưỡng tới hạn trong tiêu chuẩn quản lý các nguồn nước tự nhiên để bơi lội.
Clostridium perfringens: đây là loại vi khuẩn chỉ thị duy nhất tạo bào tử trong môi trường yếm khí; do đó nó được sử dụng để chỉ thị các ô nhiễm theo chu kỳ hoặc các ô nhiễm đã xảy ra trước thời điểm khảo sát do độ sống sót lâu của các bào tử. Trong việc tái sử dụng nước thải chỉ tiêu này được đánh giá là rất hiệu quả, do các bào tử của nó có khả năng sống sót tương đương với một số loại vi rút và trứng ký sinh trùng.
Việc phát hiện, xác định từng loại vi sinh vật gây bệnh khác rất khó, tốn kém thời gian và tiền bạc. Do đó để phát hiện nguồn nước bị ô nhiễm bởi phân người ta dùng các chỉ định như là sự hiện diện của Fecal Coliforms, Fecal Streptocci, Clostridium perfringens và Pseudomonas acruginosa. Cũng cần phải nói thêm rằng mối quan hệ giữa sự chết đi của các vi sinh vật chỉ thị và vi sinh vật gây bệnh chưa được thiết lập chính xác. Ví dụ khi người ta không còn phát hiện được Fecal Coliform nữa thì không có nghĩa là tất cả các vi sinh vật gây bệnh đều đã chết hết. Trong quá trình thiết kế các hệ thống xử lý các nhà khoa học và kỹ thuật phải hạn chế tối đa các ảnh hưởng của chất thải tới sức khoẻ cộng đồng. Mỗi nước, mỗi địa phương thường có những tiêu chuẩn riêng để kiểm tra khống chế. Do kinh phí và điều kiện có giới hạn các Sở KHCN & MT thường dùng chỉ tiêu E. coli hoặc tổng coliform để qui định chất lượng các loại nước thải.
Số lượng coliform hay E. coli được biểu diễn bằng số khả hữu MPN (Most Probable Number). Và sau khi có kết quả nuôi cấy ta có thể dùng công thức Thomas để tính số MPN:
  
trong đó
Np: số ống nghiệm phát hiện coliform (possitive)
Vn: thể tích mẫu trong các ống nghiệm không phát hiện coliform (negative)
Vt: tổng thể tích mẫu trong tất cả các ống nghiệm.


2. Các vi sinh vật chỉ thị dùng để quản lý cho các nguồn nước có mục đích sử dụng khác nhau
Đôi khi chúng ta cần phải xác định là nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi phân người hay phân gia súc để có những biện pháp quản lý thích hợp. Khi đó người ta thường sử dụng tỉ lệ Fecal coliform trên Fecal streptococci. Các số liệu về tỉ lệ Fecal coliform/Fecal streptococci được trình bày trong bảng (xem bảng 1)
- pH của mẫu phải từ 4 - 9 để bảo đảm không có ảnh hưởng xấu đến cả hai nhóm vi khuẩn này.
- Mỗi mẫu phải được đếm í nhất 2 lần.
- Để giảm thiểu sai số do tỉ lệ chết khác nhau, mẫu phải được lấy tại nơi cách nguồn gây ô nhiễm không quá 24 h (tính theo vận tốc dòng chảy).
- Chỉ những cá thể Fecal coliform phát hiện ở phép thử ở 44oC mới được dùng để tính tỉ lệ FC/FS
Bảng 1oại và số lượng các vi sinh vật trong nước thải sinh hoạt chưa xử lý
Sinh vật        Số lượng cá thể/mL
Tổng coliform        105 - 106
Fecal coliform        104 - 105
Fecal streptococci        105 - 104
Enterococci        102 - 103
Shigella        Hiện diện
Salmonella        100 - 102
Pseudomonas aeroginosa        101 - 102
Clostrium perfringens        101 - 103
Mycobacterium tuberculosis        Hiện diện
Cyst nguyên sinh động vật        101 - 103
Cyst của Giardia        10-1 - 102
Cyst của Cryptosporium         10-1 - 101
Trứng ký sinh trùng        10-2 - 101
Vi rút đường ruột        101 - 102

Mức độ nhiễm bẩn vi sinh vật của nguồn nước phụ thuộc nhiều vào tình trạng vệ sinh trong khu dân cư và nhất là các bệnh viện. Đối với nước thải bệnh viện, bắt buộc phải xử lý cục bộ trước khi xả vào hệ thống thoát nước chung hoặc trước khi xả vào sông hồ.
Nguồn nước bị nhiễm bẩn sinh học không sử dụng để uống được, thậm chí nếu số lượng vi khuẩn gây bệnh đủ cao thì nguồn nước này cũng không thể dùng cho mục đích giải trí như bơi lội, câu cá được. Các loài thủy sản trong khu vực ô nhiễm không thể sử dụng làm thức ăn tươi sống được vì nó là ký chủ trung gian của các ký sinh trùng gây bệnh.
III. TẢO LAM:
Tảo Lam hay còn được gọi là vi khuẩn lam (Cyanobacteria), theo tiếng Hylạp thì cyanos = blue là một ngành vi khuẩn mà có khả năng hấp thu năng lượng qua quá trình quang hợp.
Trong số các cơ thể tự dưỡng được thì Tảo lam được xem là nhóm nguyên thủy nhất. Di tích hóa thạch của chúng phát hiện được cách nay khoảng 3,8 tỷ năm. Chúng được xếp liền sau các vi khuẩn, riêng với các nhóm khác vì ngoài những đặc điểm như chưa có nhân thật, chưa có lạp, chỉ chứa diệp lục tố a, sắc tố phụ trội bản tính protein thường làm cho chúng có màu lam (có khả năng tự dưỡng) ra thì chúng cũng chưa có sự sinh dục hữu phái, và tản có cấu tạo đơn giản, đơn tế bào hay hình sợi. Tảo lam không có tiên mao di chuyển chủ yếu bằng cách trượt trên bề mặt. Hầu hết được tìm thấy trong nước ngọt, và đất ẩm ướt, một số ít loài được tìm thấy trong nước mặn.
1. Sơ lược về cấu tạo tế bào của tảo lam:                                             
Vi khuẩn lam thường có dạng đơn bào, tập đoàn, dạng sợi chuỗi. Một vài tế bào trong chuỗi có hình dạng khác được gọi là dị bào nang (heterocysts) có khả năng cố định nitơ và một dạng khác được gọi là tế bào nghỉ (ankinetes).
1.1 Tế bào dinh dưỡng
1.1.1 Hình dạng: Tế bào dinh dưỡng của Tảo lam có thể có hình cầu, hình êlíp rộng, hình êlíp kéo dài, hình quả lê, hình trứng, hình kéo dài về một phía, hình thoi, hình ống. Có tế bào đường kính chỉ khoảng 1 micromet (như giống Synechococcus) nhưng cũng có tế bào chiều ngang của sợi vượt quá 30 micromet (như giống Oscillatoria).
1.1.2.Vách tế bào: Vách tế bào Tảo lam khá dầy, gồm 4 lớp, bên ngoài thường hóa nhầy, có khi tạo thành bao chuyên hóa, bao xung quanh tế bào hoặc nhóm tế bào hay toàn bộ sợi.
Vách tế bào của Tảo lam chủ yếu do hợp chất murein - là một glucosaminoprotein (Salton, 1964) do axít d-glutamic, alanin d và l và axít diaminopimelic. Ngoài ra có thể còn có cellulose. Bắt màu gram-âm.
1.1.3 Chất nguyên sinh: Chất nguyên sinh ở Tảo lam được phân biệt thành 2 vùng:
   - Vùng ngoài có màu (vùng sắc bào chất, chromatoplasme), tập trung các phiến thylakoids, thể ri bô và các thể hạt khác.
   - Vùng trong (vùng trung bào chất, centroplasme) chứa ADN. Ở giữa ranh giới giữa 2 vùng không rõ ràng chỉ nhận ra khi dùng phẩm Feulgen nhuộm trung bào chất chứa ADN. Trong chất tế bào còn có: Các hạt nhỏ thường sắp thành hàng dài theo vách ngang, đó là những hạt cyanophycin.
Những hạt glicogen (tinh bột) là chất dự trữ chính của Tảo lam do quang hợp tạo ra, nó rất nhỏ, nhuộm màu đỏ nâu với iod.
Các túi khí (không bào khí): Dưới kính hiển vi (KHV) ở độ phóng đại nhỏ (x10) túi có màu đen, ở độ phóng đại lớn hơn có màu tím đỏ. Có khi chiếm cả tế bào ở một vị trí nào đó như trên vách ngăn ngang. Ðôi khi chỉ xuất hiện ở điều kiện sinh lý nào đó: chuyển vào môi trường có ánh sáng cao...
Cơ cấu của không bào khí dưới kính hiển vi điện tử là những ống hình trụ (đường kính 70 nm, dài gấp nhiều lần rộng). Khác với màng tế bào, màng của không bào khí chứa 95% protein (Jones & Jost, 1970) và theo Smith & CSV (1969) thì protein này giống với protein của siêu khuẩn, màng không có một sắc tố nào cả. Không bào nầy được thành lập từ những hạt rất nhỏ, lớn lên rồi khí khuếch tán qua màng. Không bào khí có ba vai trò: chứa khí, làm phao và che ánh sáng (light shielding).
1.1.4 Sắc tố: Trong bào chất ta gặp các sắc tố sau đây:
- Chỉ có diệp lục tố a (có màu lục), nhóm carotenoids (có 2 loại là caroten là các hydrocarbon và xanthophyll là các dẫn xuất có chứa O2) có màu vàng, cam hoặc đỏ.
- Các sắc tố phụ trội gọi là phycobiliprotein (không nằm trên thylakoids như diệp lục tố mà trong các khoang giữa các lớp màng) gồm c-phycocianin và c-phycoerythrin hiện diện với nồng độ cao.
Hai sắc tố ấy đi đôi theo thành phần thay đổi tùy loài và tùy môi trường nên màu của Tảo lam rất thay đổi: Tảo lam có thể biến màu để thích ứng vào môi trường.
1.2. Dị bào
Dị bào là tế bào đặc biệt có ở tảo lam sợi chúng có khả năng cố định đạm chúng cố định nitơ trong không khí bởi enzyme nitrogenase. Nitrogenase bị bất hoạt bởi oxy nên tảo lam chỉ cố định nitơ trong môi trường kị khí
Dị bào là tế bào có vách dày, đôi, trong suốt, không có oxygen và không có hệ thống quang II (PS II) do đó nó không sản xuất ra oxy trong quá trình quang hợp. Dị bào xuất phát từ tế bào dinh dưỡng nên hình dạng cũng giống tế bào sinh ra chúng, nhưng thường to hơn. Dị bào có 1 hoặc 2 lỗ (ở đầu tiếp xúc với tế bào dinh dưỡng) tùy theo vị trí ở đầu hay ở giữa sợi qua đó lưu thông tế bào chất với các tế bào nằm cạnh nó. Khoảng cách của dị bào trên sợi chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường. Dưới KHV quang học, chất tế bào trông đồng nhất (homogeneous) nhưng dưới KHV điện tử nó có một hệ thống màng, thường có màu xanh vàng do có diệp lục tố a và caroten nhưng thiếu phycocyanin.
2. Môi trường sống của tảo lam
Tảo lam có sức sống rất dẽo dai, chúng hiện diện trong tất cả môi trường: trên giá thể (trên mặt bùn của ruộng, mương; trên vỏ cây ẩm, trên các viên đá...), trong nước, trong không khí... Ngay cả những nơi có điều kiện rất khắc nghiệt suối nước nóng (trên 70 độ C) hay trên những vùng núi tuyết...
3. Sự dinh dưỡng của tảo lam
- Vài tảo lam có thể sống dị dưỡng (nhưng tương đối ít). Khi ta cấy tảo trong môi trường có chất hữu cơ đặt nơi tối, có những tảo chịu sống dị dưỡng như vậy, có nhiều tảo không sống được (tự dưỡng bắt buộc).
- Nhiều loài Tảo lam sống cộng sinh. Ví dụ Ðịa y, hay giữa Anabaena azolla với bèo hoa dâu...
4.Vai trò của tao lam và các loài tảo khác  trong môi trường nước :
4.1. Đối với thực vật:
Các loài tảo thuộc chi Nostoc, Oscillatoria có khả năng cố định nitơ, còn các loài tảo lam khác là thành viên của tổ hợp địa y. Một số tảo lam có khả năng cố định nitơ tự do, khả năng này có ý nghĩa lớn ở đất trồng lúa ngập nước. Trước khi đất bị ngập nước, lượng nitơ do tảo lam cố định chỉ chiếm 30%, sau thời gian ngập nước, giá trị nâng lên tới 70% so với nitơ tổng số. Năng suất cố định nitơ của tảo lam cao nhất trong điều kiện đầy đủ ánh sáng. Khả năng cố định nitơ của tảo lam ở đất lúa vùng nhiệt đới có ý nghĩa lớn; mức độ cố định nitơ của tảo ở đây cao hơn nhiều so với các vi khuẩn sống tự do. Ở ruộng lúa có tảo lam và tảo lục phát triển mạnh, lượng nitơ do tảo cố định có thể xấp xỉ bằng lượng nitơ mà thực vật hấp thụ.
4.2. Đối với ngành thuỷ sản :
Nuôi trồng thuỷ sản bền vững là xây dựng hệ thống nuôi gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và có hiệu quả kinh tế. Việc tái sử dụng các chất thải hữu cơ trong nuôi cá đáp ứng cả hai mục đích là làm sạch môi trường và giảm chí phí để sử dụng phân hoá học (thông thường chiếm khoảng hơn 50% tổng chi phí). Tuy nhiên, việc sử dụng tuỳ tiện các loại phân bón trong ao hồ nuôi cá có thể gây ô nhiễm môi trường. Bởi vậy, người nuôi cần phải biết các tiêu chuẩn sử dụng chất thải này qua các thông số hoá lý của nước ao hồ để đảm bảo tỷ lệ sống và tăng trưởng cao của cá
Nghiên cứu được tiến hành tại trại nuôi cá của đại học Nông nghiệp Punjab, Ludhiana trong thời gian 270 ngày.Phân lợn đã được sử dụng trong nuôi ghép các loài thuộc họ cá chép như một nguồn phân bón tốt với mức 18T/ha/năm và 36 T/ha/năm cho một đợt nuôi khoảng 270 ngày mà không cần cho ăn thức ăn bổ sung. Quan sát cho thấy phân lợn không làm biến đổi các thông số hoá sinh của nước như độ pH, mức ôxy hoà tan và độ kiềm. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước (photphat và nitrat) trong các ao hồ được bón phân lợn cao hơn các ao đối chứng (không bón phân, chỉ cho ăn bổ sung). Ngoài ra, mật độ phù du sinh vật cũng cao hơn đáng kể. Tốc độ tăng trưởng của cá Catla, cá trôi ấn Ðộ cũng cao hơn rõ rệt. Cá Mrigal và cá chép thường trong ao được bón phân ở mức 18 t/ha/năm cũng lớn nhanh, nhưng cá trắm cỏ lại lớn nhanh hơn trong ao nuôi đối chứng với ao có bón phân..
Trong 270 ngày nuôi, nhiệt độ nước dao động từ 12 đến 35oC. Các thông số lý hoá cuả nước đóng vai trò đặc biệt trong sinh học và sinh lý cá. Trong nghiên cứu này, các thông số lý hoá của nước trong cả hai hình thức nuôi đều duy trì trong khoảng cho phép đáp ứng yêu cầu nuôi. Sự khác nhau giữa các thông số lý hóa ở hai phương pháp nuôi này là không lớn. Ðiều này gợi ý rằng nếu bón một lượng phân lợn lớn hơn (36 T/ha/năm) cũng không có ảnh hưởng xấu tới các thông số lý hoá của nước. Thậm chí trong trường hợp có một lượng chất hữu cơ đáng kể chiết ra từ phân lợn cũng không làm giảm nồng độ ôxy hoà tan trong nước. Nồng độ nitrat-nitơ trong nước không khác nhau đáng kể giữa các phương pháp nuôi. Tuy nhiên, lượng photphat hòa tan trong nước ở phương pháp nuôi có bón phân cao hơn trong phương pháp nuôi cho ăn thêm. Ðiều này có lẽ là do sự có mặt của photphat trong phân lợn.
Năng suất sinh học của bất kỳ cơ thể thuỷ sinh nào cũng được đánh giá chung qua chất lượng và số lượng của sinh vật phù du vốn là thức ăn tự nhiên của cá. Chất thải động vật làm tăng khả năng sinh học của ao hồ qua các cách khác nhau dẫn tới sự tăng sản lượng cá. Trong nghiên cứu này, các thông số sinh học của nước bao gồm các sinh vật phù du và các nhóm tảo lam và tảo lục (riêng tảo Silic ít hơn nhiều trong ao có bón phân) và lượng phù du động vật trong ao bón phân lợn cao hơn nhiều trong ao đối chứng. Ðiều này có thể do lượng photphat có trong phân lợn hoà tan trong nước cao hơn. Tuy nhiên, không có sự khác biệt lớn về sức sản xuất của ao hồ giữa hai mức bón phân lợn. Sức sản xuất của phù du sinh vật trong các hồ tái sử dụng phân lợn cao góp phần tạo năng suất của ao tiếp tục cao trong một thời gian dài. Phân lợn cung cấp cho phù du động vật nguồn thức ăn bổ sung từ vi khuẩn có từ nguồn phân hữu cơ. Thành phần của phân lợn ảnh hưởng tới cấu trúc quần thể sinh vật phù du, trong số thực vật phù du, tảo lam là nhóm chiếm ưu thế, tiếp theo là tảo lục, còn tảo silic có rất ít. Trong số phù du động vật, luân trùng là nhóm nhiều nhất, theo sau là lớp phụ chân chèo và lớp râu ngành ở tất cả các loại hình nuôi.
4.3. Đối với việc xử nước thải :
Việc xử lý nước thải, rác thải và khắc phục những sự cố gây ô nhiễm dầu, sự cố do sử dụng ồ ạt thuốc trừ sâu và phân hóa học trong nông nghiệp nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên đất và rừng v. v.. đòi hỏi có sự tham gia toàn xã hội, trong đó ngành sinh học đóng vai trò quan trọng. Công nghệ sinh học tảo có nhiều triển vọng ứng dụng trong xử lý nước thải, nuôi cá làm phân bón, sản xuất thực phẩm v.v.. Xuất phát từ thực tiển đó, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thuộc Bộ KHCNMT đã tiến hành nghiên cứu đề tài \'Sử dụng một số biện pháp sinh học để làm sạch môi trường đất và nước\'. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm hóa, lý, sinh học của nước: Nhiệt độ, pH, tổng lượng chất rắn lơ lửng, độ đục, COD, BOD5, N-NH4+, N-NOX, PO43-, CL-, H2S, Cu, Fe total, Zn. Số vi sinh vật hiếu khí, vi sinh vật kỵ khí, E.coli, Coliform,v.v.. của một số nguồn nước thải ở Hà Nội, Bộ đã thử nghiệm nuôi trồng một số loài tảo như:
- Tảo chorellapyrenoidosa
- Bèo hoa dâu Azollapinata
- Vi khuẩn làm cố định đạm Nostoc và Glocotrichia-CL
- Các chế phẩm sinh học là một số vi sinh vật có khả năng cố định đạm như: \'Klebsiella\',\'Etrasol\' và \'Agrofil\'
Thí nghiệm cho các kết quả sau:
- Nước thải sinh hoạt đổ vào hồ của Hà Nội tại một số điểm nghiên cứu khá bẩn: BOD cao gấp 2-5 lần, COD cao gấp 2-7 lần, N-NH4+, cao gấp 4-14 lần so với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt, vi sinh vật thể hiện sự nhiễm phân Clostridiumm wiichii có nhiều 2,7*103 tb/100 ml.
- Nước thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt đổ ra các kênh mương cũng như nước thải sinh hoạt hòa lẫn nước thải công nghiệp thuộc loại ô nhiễm nặng, hàm lượng các chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh cao: COD cao gấp 10-20 lần, BOD cao gấp 4-12 lần, Coliform cao gấp 10-104 lần, N-NH4+, gấp 25-50 lần so với TCVN 5942-1995 về chất lượng nước mặt.
Tảo Chlorella sinh trưởng tốt trong các nguồn nước thải đã được nghiên cứu trong giải COD dao động từ 200-700 mg/l. Trong các nghiên cứu tảo Chlorella phát triển tốt nhất trong nước thải sinh hoạt với giải COD từ 200-400 mg/l, sinh khối đạt 400-1000mg tảo khô/sau 5-6 ngày.
Tảo Chlorella thể hiện khả năng phân hủy COD và BOD rất cao đối với nước thải sinh hoạt trong điều kiện nuôi trong các bể ở điều kiện phòng thí nghiệm. COD giảm 84%, BOD giảm 90%.
Tảo Chlorella có khả năng loại bỏ N-NH4+, PO43-của nước thải sinh hoạt rất cao. Giá trị các chỉ số này trong nước sau xử lý đạt TCVN 5942-1995 về nước mặt trong những thí nghiệm trong phòng thí nghiệm. N-NH4+ giảm 99% ,PO43- giảm 98%.
Tảo Chlorella có khả năng hấp thụ Cu và Zn trong môi trường nước thải tổng hợp. Hiệu quả loại bỏ Cu đạt 94-95% sau 20 ngày và hiệu quả loại bỏ Zn đạt 97% sau 16 ngày.
Bèo dâu- cơ thể cộng sinh giữa tảo và dương xỉ, có khả năng hấp thụ Covà Eu được hấp thụ đều nằm ở phần lá bèo.
Vi khuẩn làm cố định đạm Nostoc và Glocotrichia bón cho rau có tác dụng làm tăng sinh khối rau muống trong khi hàm lượng đạm tổng số có mẫu thí nghiệm tương tự đối chứng các tảo này cũng làm tăng năng suất của rau cải trồng trong dung dịch lên 10%.
Các chế phẩm vi sinh vật cố định đạm: \'Klebsiella\',\'Etrasol\' và \'Agrofil\' có thể đem sử dụng thay thế phân đạm urê vô cơ để bón cho rau diếp và rau cải mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu năng suất, hàm lượng đạm tổng số và không làm tăng hàm lượng N-NO3- trong rau.
Đề ra mô hình trong phòng thí nghiệm sử dụng tảo để xử lý nước thải sinh hoạt, mô hình đề ra đơn giản, gọn nhẹ nhưng có hiệu quả làm giảm BOD 90%,PO43-98%, E.coli 50%.
IV. TÁC HẠI CỦA VI SINH VẬT TRONG NƯỚC:
1. Vi sinh vật gây ô nhiễm nguồn nước:
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật. Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật bản, giun đỏ, trứng giun v.v...
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v... Ðể đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số coliform. Ðây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học. Ðể xác định chỉ số coliform người ta nuôi cấy mẫu trong các dung dịch đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định. Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường.
Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm. Ðã có năm số người bị mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900 triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người. Ðể hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường sống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ cộng.
2. Vi sinh vật gây hại đến nuôi trồng thủy sản:
Các loại vi sinh vật có hại trong nước là nguyên nhân chủ yếu gây nên các bệnh ở thủy sản. Sau đây là những bệnh thường gặp ở một số loại thủy sản có nguyên nhân từ vi sinh vật.
2.1. Bệnh nhiễm khuẩn:
- Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Aeromonas.
-Bệnh nhiễm khuẩn do Pseudomonas (bệnh đốm đỏ)
-Bệnh nhiễm khuẩn huyết do Edwardsiella (Edwarsiellosis)                  
2.2. Bệnh trắng da: (bệnh mất nhớt) do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra.
2.3. Hội chứng lở loét ở cá( Epizootic Ulcerative Syndrome) Virus có tên Rhabdovirus trên cá bệnh.
Nấm: nấm không phải là tác nhân gây bệnh, song sự cảm nhiễm nấm sẽ làm gia tăng mức độ trầm trọng của bệnh, tăng tỷ lệ chết. Một số loài nấm được phân lập từ vết loét của cá thuộc giống Aphanomyces, Achlya và Saprolegnia.
       
2.4. Bệnh Thối Vây ( Columnaris Disease): do vi khuẩn Flexibacter columnaris, gram âm gây ra.
2.5. Bệnh trắng đuôi: do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra. vi khuẩn tấn công vào da khi trên da cá bị tổn thương.
2.6. Bệnh Nấm Mang: do nấm thuộc Branchiomyces gây nên. Ao, hồ nước đọng, có nhiều chất hữu cơ, tảo phát triển đày đặc, thả nuôi với mật độ cao sẽ tạo điều kiện cho nấm phát triển và gây bệnh.



















KẾT LUẬN
Theo các nhà khoa học thì chúng ta mới chỉ biết khoảng 10% các loại vi sinh vật. Thế giới vi sinh vật còn muôn điều kỳ thú để chúng ta tìm khám phá. việc ứng dụng vẫn còn hạn chế do đó việc tìm kiếm và tìm hiểu vai trò của nó trong môi trường sống  là tối cần thiết. trong môi trường nước quá rộng lớn chúng ta đã biết khá nhiều loài đặc trưng và vai trò chủ yếu của nó.
Tóm lại trên đây là những vi sinh vật trong nước và những vai trò của nó. Do khuôn khổ của bài tiểu luận nên nhóm chỉ có thể trình bày sâu vào phần tảo. Tuy nhiên chúng ta hiểu rằng vi sinh vật đem lại cho ta nhiều lợi ích nhưng cũng gây hại đến chúng ta không kém. Do đó hiện nay các nhà khoa học đang tìm cách mở rộng ứng dụng của vi sinh vật đồng thời hạn chế những mối nguy hại mà nó gây ra.




























TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.        Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyền, Phạm Văn Ty. Vi sinh vật học. Nhà xuất bản Giáo dục. 2000.
2.        Nguyễn Thành Đạt. Cơ sở học Vi sinh vật. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 2002.
3.        Viện Công nghệ Sinh học – Thực phẩm, Giáo trình Vi sinh đại cương. Trường ĐH Công Nghiệp TP>HCM. 2008.
4.        www.google.com.vn
nhatthien_08 Đăng lúc 26-11-2008 10:06:02
mình đang phải làm một cái somina ve \'\'cách tháo gỡ bom mìn \'\' các bạn giúp mình với nha!
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký


Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam Ex links: FUN88, M88, Trao đổi Link: Nhac San, ve sinh cong nghiep, Thiết Kế Website Chuyên Nghiệp, Tài Liệu, Luận Văn, DAFABET, Diễn đàn sinh viên Công nghiệp, replica louis vuitton, m88, m88, Ebook miễn phí, ve may bay, mua ban nha dat, ve may bay gia re, Thư viện tài liệu, Thư viện giáo án, Bài giảng điện tử, W88, xe dap dien, xe đạp điện, tai game ban ca, tai photowonder, Tự học tiếng anh Effortless English,


Lưu trữ|Phiên bản Mobile|Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net © 2006-2013
Đang chờ Bộ Thông Tin & Truyền Thông cấp phép theo Nghị định 97/2008/NĐ-CP
Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam
Chúng tôi sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào đối với hoạt động của Thành viên.
Liên hệ: 0945.434.344 - (Trần Công Toàn) - Email: wil8x@yahoo.com -
Check Google Page Rank - Ping your blog, website, or RSS feed for Free - DMCA.com

facebook like

GMT+7, 22-9-2014 19:10 , Processed in 0.331558 second(s), 15 queries , Gzip On, Apc On.

N2C sử dụng mã nguồn Discuz!

Bản quyền mã nguồn thuộc về Comsenz Inc.
Thông tin quảng cáo trên Ngoinhachung.net

Lên trên